
Theo GSTS. Nguyễn Chấn Hùng – Chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, ung thư của trẻ em hiếm gặp, khoảng 100 người lớn bị ung thư thì có một trẻ bị bệnh. Đối với trẻ em ung thư xuất phát từ các đột biến trong các gen của các tế bào đang tăng trưởng (các tế bào non).
Các ung thư thường gặp ở trẻ em là bệnh bạch cầu (ung thư máu), bệnh lymphôm (ung thư hạch lymphô), ung thư não, bướu wilms (ung thư thận), ung thư mắt (bướu nguyên bào võng mạc). Tuổi mới lớn, ung thư xương gặp nhiều hơn. Các ung thư mọc ở các vị trí khác nhau, cách điều trị và mức lành bệnh cũng khác nhau.
Tại Hội nghị Khoa học phòng chống ung thư toàn quốc, tác giả Hoàng Ngọc Anh Tuấn – Khoa Nhi – Bệnh viện tỉnh Đăk Lăk đã báo cáo đề tài nghiên cứu “Tình hình chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư ở trẻ em tại Đăk Lăk từ năm 2008-2012. Kết quả nghiên cứu có 280 trẻ thuộc nhóm bệnh ung thư trẻ em phát hiện trong 5 năm chiếm tỷ lệ 0,69% tổng số người bệnh vào nhập viện tại Khoa Nhi và chiếm 15,6% đối với các bệnh về máu. Theo tác giả nghiên cứu các khối u như u mỡ, u hạch bạch huyết chiếm 48%; Lơxêmi cấp cả 2 dòng chiếm 26,7%. U ác tính chiếm 10%. Tỷ lệ mắc bệnh giữa nam/nữ là 1,17/1; không chênh lệch nhiều. Tuổi mắc bệnh phổ biến ở lứa tuổi dưới 5 tuổi chiếm 46%. Tác giả nghiên cứu cũng lưu ý công tác chẩn đoán phát hiện bệnh còn chậm và muộn; chủ yếu dựa vào dấu hiệu lâm sàng như người bệnh sốt kéo dài trên 7 ngày, nhiễm trùng dài ngày, thiếu máu, xuất huyết. Tỷ lệ tử vong các bệnh lý ung thư của trẻ em bệnh viện rất cao 36%; phần lớn điều trị chuyển tuyến trên.
Đối với bệnh bạch cầu là ung thư của bạch cầu trong máu, thường được gọi là ung thư máu. Các tế bào máu được sản xuất từ tủy xương. Các bạch cầu giúp cơ thể chống lại sự nhiễm trùng. Tủy xương lại sản sinh các bạch cầu không bình thường ngày một nhiều, chúng lấn lướt chèn ép các bạch cầu lành khiến máu không làm tốt chức năng của mình. Bệnh bạch cầu có thể xuất hiện nhanh hay chậm. Bệnh bạch cầu cấp là loại bộc phát rất nhanh, bệnh bạch cầu mạn diễn tiến chậm. Trẻ em thường mắc bệnh bạch cầu cấp, các tế bào còn non tiềm năng sinh sản nhanh, vì vậy bệnh bạch cầu nguyên bào có diễn tiến rất ác tính.
Đối với bệnh Lơxêmi cấp dòng Lympho (ALL) là bệnh tăng sinh ác tính trong quá trình tạo máu dòng lympho. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 100.000 bệnh nhân ALL mới, trong đó 70% là trẻ em.
Tại Hội nghị Khoa học phòng chống ung thư toàn quốc, tác giả Châu Văn Hà cùng cộng sự Bệnh viện Trung ương Huế báo cáo nghiên cứu “Kết quả điều trị Lơxêmi cấp dòng Lympho ở trẻ em (ALL) và hiệu quả của hỗ trợ xã hội”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2007 đến tháng 12/2012, 122 bệnh nhi ALL, tuổi từ 1 tháng đến 15 tuổi. Bệnh nhi được kiểm tra tủy đồ ngày 28 của giai đoạn điều trị tấn công; Được gọi là lui bệnh hoàn toàn khi lâm sàng không còn triệu chứng của bệnh, xét nghiệm máu không có NBLB, các dòng tế bào máu hồi phục, tủy đồ có ≤ 5% NBLP, các dòng tủy khác hồi phục. Đối với ca bệnh lui bệnh không hoàn toàn (một phần) các triệu chứng lâm sàng thuyên giảm so với lúc vào viện, nhưng NBLP còn > 5% tế bào tủy. Đối với trường hợp không lui bệnh các triệu chứng lâm sàng không thuyên giảm hoặc tăng lên, NBLP ≥ 25% tế bào tủy.
Kết quả nghiên cứu theo báo cáo của tác giả Châu Văn Hà cho thấy tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn trong giai đoạn cảm ứng là 91,4% đối với nguy cơ thường và 82,6% đối với nguy cơ cao.
Nguy cơ cao được định nghĩa là tuổi nhỏ hơn 1 tuổi hoặc ≥ 10 tuổi hoặc số lượng bạch cầu ban đầu ≥ 50 x 109/L. Nghiên cứu cũng cho thấy các bệnh nhân chưa lui bệnh hoặc lui bệnh không hoàn toàn thường là những bệnh nhân bị nhiễm trùng nặng trong quá trình điều trị và buộc phải gián đoạn điều trị hóa chất, ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Về tỷ lệ tái phát chung là gần 23%, phần lớn tái phát sớm trong quá trình điều trị hoặc tái phát trước một năm rưỡi sau kết thúc liệu trình điều trị, vì vậy tiên lượng để điều trị tiếp theo là rất khó khăn. Chẩn đoán bệnh tái phát là sau khi lui bệnh một thời gian bệnh diễn tiến lại. Tùy theo vị trí tái phát đầu tiên sẽ có các biểu hiện khác nhau. Trong nghiên cứu của BS. Châu Văn Hà, có một bệnh nhi tái phát tinh hoàn một bên sau 3 năm điều trị, bệnh nhi được xạ trị tinh hoàn và cho kết quả tốt.
Về bỏ điều trị được định nghĩa là trễ hẹn tái khám 4 tuần hoặc từ bỏ điều trị trước thời gian hoàn thành phác đồ điều trị. Bỏ điều trị đối với trẻ em ung thư luôn là thách thức lớn ở các nước nghèo, nước đang phát triển. Tại Việt Nam các thống kê cho thấy có khoảng 20% trẻ em có điều kiện tiếp cận với điều trị hóa trị liệu trong đó khoảng 50% bỏ điều trị. Trong nghiên cứu của BS. Hà tỷ lệ bỏ điều trị là 4%. Giải thích có được kết quả tốt như vậy là nhờ bệnh viện có đội ngũ nhân viên y tế hoạt động tích cực cùng với các cha mẹ bệnh nhi thực hiện các giải pháp như thiết lập quản lý số liệu bệnh nhi ung thư; thành lập hoạt động Hội cha mẹ bệnh nhân ung thư, sinh hoạt định kỳ mỗi 3 tháng; xác định các nguyên nhân hay gặp làm người bệnh bỏ điều trị; hỗ trợ tiền xe đi lại tái khám cho người bệnh và người nhà đi kèm; cung cấp bữa ăn an toàn, miễn phí cho bệnh nhi nội trú; hỗ trợ chi phí điều trị cho gia đình bệnh nhi quá nghèo; giáo dục cha mẹ bệnh nhi hợp tác tốt trong chăm sóc trẻ và lắng nghe ý kiến từ phía bệnh nhi và cha mẹ để giảm lo âu, thành kiến và liên lạc sớm bằng điện thoại với những gia đình bệnh nhi trễ hẹn tái khám.
Có thể nói giúp bé thích ứng với căn bệnh, tạo điều kiện để trẻ lớn cộng tác trong việc điều trị là rất quan trọng, nhẹ nhàng cho các trẻ biết loại ung thư và các phản ứng phụ, cần chuyện trò phù hợp với tuổi của bé. Tránh làm cho bé sợ hãi và hiểu lầm. Rất cần các nhà tâm lý, trợ tá xã hội, người thiện nguyện chú ý an ủi, giúp đỡ tinh thần các bé bệnh. Kíp chăm sóc có thể tiếp xúc với nhà trường để thầy cô giáo trợ giúp thêm.
Đối với trẻ ngay từ khi mới sinh, cần tránh việc sử dụng phóng xạ để điều trị các loại bướu lành nhất là bướu mạch máu và cũng cố gắng giảng dạy từ lớp mẫu giáo giữ gìn sức khỏe vệ sinh ăn uống, răng miệng tác hại thuốc lá, rượu bia để giúp phòng ngừa bệnh tật ở trẻ em.
Nguyên Khải