[Đăng ngày: 06/01/2016]
Phụ nữ gần 30 tuổi trở lên, sờ nắn vú thấy có một cục không đau hoặc hơi đau nên đi khám ngay. Phụ nữ lớn tuổi nguy cơ bị ung thư vú tăng lên, bình thường bệnh gặp ở độ tuổi khoảng 35-50.
Ung thư vú xuất hiện khi vài tế bào vú bắt đầu tăng trưởng bất thường. Các tế bào này sinh sôi nhanh hơn các tế bào lành và tụ lại thành khối bướu. Thường ung thư mọc từ các tế bào của ống dẫn sữa gọi là ung thư ống dẫn, từ mô tuyến gọi là các tiểu thùy gọi là ung thư tiểu thùy. Các tế bào có thể lan tràn đến các hạch lympho và các nơi khác trong cơ thể.
Điều trị ung thư vú hiện nay chủ yếu bao gồm các phương pháp phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, điều trị nội tiết và liệu pháp sinh học. Phương pháp phẫu thuật là cơ bản và rất quan trọng, vấn đề chăm sóc người bệnh được phẫu thuật ung thư vú là một vấn đề lớn đòi hỏi tỉ mỉ, chính xác cao góp phần đem lại thành công cho điều trị.
Nhóm nghiên cứu Phan Thị Kim Xuân, Châu Thị Hoa cùng cộng sự Bệnh viện Trung tương Huế đã báo cáo tại Hội nghị Phòng chống ung thư toàn quốc đề tài “ Chăm sóc người bệnh ung thư vú”. Nghiên cứu được thực hiện trển 100 đối tượng nghiên cứu được phẫu thuật ung thư vú từ tháng 5/2012 đến tháng 5/2013. Đối tượng nghiên cứu tuổi từ 40 đến dưới 60 tuổi chiếm 70%; từ 60 tuổi trở lên chiếm 17%; vào viện sau khi phát hiện u trên 1 năm chiếm tỷ lệ 45%, phát hiện sớm dưới 3 tháng có tỷ lệ 9%. Có 21% đối tượng nghiên cứu đã tự phát hiện hạch nách; 17% bệnh nhân có tăng huyết áp nhưng không được điều trị ổn định trước khi phẫu thuật. Qua thăm khám lâm sàng 100% đối tượng nghiên cứu phát hiện có u vú, 46% sờ thấy hạch nách trên lâm sàng; 3% khám có hạch cổ; chụp mamography có hình ảnh nghi ngờ ác tính chiếm 55%. Điều trị có 94% được thực hiện phẫu thuật cắt vú triệt để cải biên, 1% cắt vú bảo tồn (cắt rộng u, vét hạch nách); có 4 bệnh nhân vừa được cắt vú bảo tồn vừa xạ Intrabeam trong lúc mổ.
Theo tác giả Phan Thị Kim Xuân, trước mổ tất cả các trường hợp được đo dấu hiệu sinh tồn, mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở; có một số trường hợp do lo lắng tăng huyết áp khi lên phòng mổ phải hoãn mổ khi đó. 100% đối tượng nghiên cứu được tiến hành hội chẩn trước mổ, ký giấy cam đoan trước mổ, khám gây mê trước mổ; tuy nhiên vẫn có 45% trường hợp chưa được đánh dấu vị trí phẫu thuật; 35% trường hợp chưa đeo bảng tên vào tay người bệnh.
Đối với chăm sóc bệnh nhân sau mổ, khi người bệnh từ khu vực hậu phẫu chuyển về, 100% đều được tiếp nhận và có đánh giá bước đầu về toàn trạng, tình trạng vết mổ, dẫn lưu, người bệnh được đưa vào phòng, ổn định chỗ nằm, treo dẫn lưu trên giá, dẫn lưu phải thấp hơn giường bệnh. Hầu hết đối tượng nghiên cứu đều tiếp xúc tốt, vết mổ khô, dẫn lưu thông, còn đau nhẹ vết mổ, không sốt, không khó thở. Tất cả đối tượng nghiên cứu đều được hướng dẫn chế độ ăn đảm bảo dinh dưỡng, uống nước hoa quả có nhiều vitamin C; được điều dưỡng hướng dẫn cách vận động vai- cánh tay để đề phòng tắc mạch, phù chi và hạn chế vận động sau mổ.
Theo tác giả nghiên cứu Kim Xuân, có 15% trường hợp có biểu hiện sưng nề vùng vú nách do đọng dịch, người bệnh được hướng dẫn ép tay vào nách để dịch chảy ra theo ống dẫn lưu; điều dưỡng tiến hành ép tay xung quanh vết mổ, quanh vùng nách và quanh chân dẫn lưu để dịch chảy qua sonde; không có trường hợp tắc dẫn lưu sau mổ. Đối với đau vết mổ có 45% đau nhẹ, 55% đau vừa.
Công tác theo dõi các biến chứng muộn sau mổ, có 5% trường hợp bục vết mổ, vết mổ sưng đỏ, đau ít, da xung quanh vùng mổ có bỏng do quá trình cắt đốt phẫu thuật, có trường hợp phải thay băng 2 lần/ ngày, đắp gạc veselin, rắc thuốc kháng sinh tại chỗ. Đối với công tác theo dõi dịch qua dẫn lưu, lúc đầu dịch có màu đỏ, rồi nhạt dần sang màu hồng và màu vàng trong. Số lượng dịch giảm dần qua từng ngày; có 5% trường hợp dịch vẫn còn đọng lại ở nách vú sau khi cắt chỉ ra viện. Tụ dịch vết mổ gặp 35%; điều dưỡng chăm sóc sử dụng syringe hút dịch khi thay băng.
Đối với đau vết mổ, đau ở nách nhiều hơn đau ở vú, vai và cánh tay cũng có đau nhưng mức độ ít hơn. Khi tập vận động vai, cánh tay sớm người bệnh đã khắc phục đáng kể tình trạng đau. Có 70% trường hợp hạn chế vận động vùng vai- cánh tay sau mổ, tập vận động vùng vai- cánh tay đúng phương pháp và tiến hành sớm sau mổ giúp cải thiện tốt đến khi bệnh nhân xuất viện là bình thường. Cách tập là tay thẳng, úp lòng bàn tay xuống rồi từ từ đưa lên đầu; xoay tay ra sau tập gãi lưng.
Trong quá trình chăm sóc, tác giả Kim Xuân chia sẻ kết quả nghiên cứu cho thấy những trường hợp bệnh nhân có thể trạng mập hơn bình thường, khoang vú và nách lớn, sau mổ gây tình trạng đọng dịch nhiều và kéo dài tại vú nách nên vết mổ chậm lành. Thường đối với dẫn lưu vú không quá 72 giờ, có 12% trường hợp dịch nhiều ở vú nhưng thời gian rút cũng không quá 5 ngày theo chỉ định bác sĩ.
Công tác thay băng theo đúng quy trình thay băng vô khuẩn Bộ Y tế quy định; đối với những trường hợp vết thương nhiễm trùng, bỏng da, cháy da sau mổ điều dưỡng thay băng 2 lần/ ngày; đắp gạc vaselin, đắp thuốc kháng sinh Metronidazol tại chỗ sau thay băng. Hướng dẫn người bệnh ăn chế độ ăn nhiều rau xanh, thịt, cá, trứng, sữa, uống nhiều nước hoa quả tươi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian điều trị trung bình cho bệnh nhân sau mổ ung thư vú từ 8-12 ngày chiếm 75%; từ 13-15 ngày chiếm 20%; trên 15 ngày chiếm 5% là những trường hợp nhiễm trùng vết mổ, bục vết mổ, bỏng cháy vết mổ. Thời gian cắt chỉ trung bình là 8-12 ngày.
Hữu Cao
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 154

Số lượt truy cập: 9370190

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang