[Đăng ngày: 07/01/2016]
Tại Việt Nam, ung thư vòm họng (vòm hầu hay họng trên) đứng hàng thứ năm trong các bệnh ung thư thường gặp ở nam giới, ở nữ giới tỷ lệ ung thư này thấp hơn. Khoảng tuổi thường gặp ung thư vòm họng là 30-50.
Vòm họng là phần cao nhất của họng nằm sau hốc mũi. Ung thư khó phát hiện vì nằm ở vị trí khó và triệu chứng lập lờ. Ở giai đoạn sớm ung thư vòm họng có triệu chứng im lìm, khi ung thư lớn nhiều, xâm lấn vùng lân cận, làm bít hốc mũi gây nghẹt mũi, chảy máu mũi một bên, chèn nghẹt vòi Eustache cho cảm giác ù tai hoặc không nghe rõ, ăn vào đáy sọ gây nhức đầu, làm liệt các thần kinh gây sụp mi, mắt lé. Vài hạch bên cổ to lên do ung thư lan tràn theo đường lympho. Ung thư di căn xa đến xương, phổi, gan theo đường máu.
Khi đã được chẩn đoán bệnh qua nội soi vòm họng, sinh thiết, chẩn đoán hình ảnh bằng CT, MRI đánh giá mức lan rộng ung thư, xếp giai đoạn, bác sĩ sẽ đặt kế hoạch xạ trị dựa trên giai đoạn của ung thư, tổng trạng của người bệnh và các tác dụng phụ. Xạ trị là phương pháp điều trị chủ yếu, có thể kết hợp với hóa trị.
Một nghiên cứu của BS Trương Thiết Dũng cùng cộng sự Bệnh viện đa khoa Đồng Nai “Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ (JO-IMRT)” đã được công bố tại Hội nghị phòng chống ung thư năm 2013.
Theo tác giả nghiên cứu, vòm họng nằm cạnh nhiều cấu trúc giải phẫu quan trọng như thân não, giao thoa thị giác, thần kinh thị giác, tủy sống, tuyến nước bọt. Do vậy, việc giảm liều chiếu xạ đến mức thấp nhất đảm bảo trong giới hạn bình thường mà cơ quan đó có thể chịu đựng được có ý nghĩa hết sức quan trọng. Kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ đã được thừa nhận là có thể thực hiện trên những máy gia tốc có ống chuẩn trực đa lá (MLC), đồng thời kỹ thuật này cũng có khả năng thực hiện với máy gia tốc có các ngàm (Jaw) chuyển động độc lập. Trong kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ, chùm tia được chia nhỏ thành nhiều chùm tia đơn vị, được tối ưu hóa tạo nên bản đồ phân bố cường độ cho mỗi chùm tia. Từ bản đồ phân bố cường độ, máy tính sẽ tính toán để thiết lập chùm tia đó thành các trường chiếu liên tiếp theo một trình tự nhất định của máy gia tốc dựa trên việc di chuyển vị trí của các ngàm. Kết quả là hàng loạt các trường chiếu nhỏ có hình dạng bất kỳ bám sát được hình dạng khối u, từ nhiều hướng chồng chập lên nhau để nâng cao kết quả điều trị.
Theo tác giả nghiên cứu, áp dụng kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai cho thấy đạt hiệu quả cao. Cụ thể với ung thư tuyến nước bọt nếu bệnh nhân xạ trị bằng kỹ thuật thông thường (3D-CRT) thì liều xạ tại tuyến này có thể lên đến 60-70Gy gây ra tổn thương không hồi phục, biểu hiện khô miệng, mất cảm giác ngon miệng, ăn uống khó cho người bệnh. Còn áp dụng kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ (Intensity Modulated Radiation Therapy – IMRT), tuyến nước bọt chỉ còn phải nhận liều bức xạ ở dưới ngưỡng chịu đựng bình thường, trung bình từ 30-40Gy. Qua điều trị cụ thể trên các bệnh nhân ung thư vòm T3N3Mx; bệnh nhân ung thư vòm T3N1Mx đã khẳng định kỹ thuật xạ trị điều biến cường độ đã tạo ra sự phân bố liều tối ưu tại các thể tích bia khối u và giảm liều cho các cơ quan lành và các sai số đều nhỏ hơn 5%. Các triệu chứng như khô miệng, đau họng ở người bệnh đều giảm đáng kể so với những bệnh nhân xạ trị bằng kỹ thuật thông thường (3D-CRT) và không có bệnh nhân nào bỏ điều trị do các biến chứng tia xạ gây ra.
Đối với ung thư vòm họng, nguyên nhân gây bệnh có thể do vi rút Epstein Barr (EBV) nhiễm vào cơ thể, tồn tại lâu mà không gây xáo trộn gì. Nguyên nhân nữa là do thói quen ăn cá muối khô từ tuổi nhỏ làm kích hoạt vi rút gây ung thư vòm họng. Trong cá muối khô có chứa nitrosamin, chất này lâu ngày gây ung thư. Các tác nhân khác kích hoạt vi rút gồm chất benzopyren, khói công nghiệp, hóa chất bốc hơi, viêm vòm họng mạn tính, thuốc lá, rượu, tiếp xúc với formol, bụi gỗ.
Đối với những trường hợp khối ung thư thật nhỏ, hoặc tái phát, các Bệnh viện còn áp dụng phương pháp xạ trị trong còn gọi là áp sát, có ống dẫn nguồn phóng xạ đi vào khối ung thư hoặc áp sát vào. Đối với hóa trị có dạng thuốc uống, thuốc truyền tĩnh mạch, bác sĩ sẽ quyết định dùng các thuốc nào và trong bao lâu có thể dùng hóa trị và xạ trị cùng lúc. Thuốc làm ung thư nhạy thêm với xạ trị nhưng tác dụng phụ có thể tăng lên. Dùng hóa trị sau xạ trị nhằm tấn công các tế bào ung thư sót lại trong cơ thể. Phương pháp phẫu thuật chỉ áp dụng khi cần phải nạo vét các hạch cổ di căn.
Để giảm bớt chứng khô miệng sau xạ trị, người bệnh đánh răng vài lần trong ngày, súc miệng với nước muối ấm sau bữa ăn, giữ miệng ẩm với nước và kẹo ngậm không đường, lựa thức ăn mềm ướt, thức ăn có sốt bơ hoặc sữa, tránh món ăn khô, thức ăn uống cay, chua, có cafein và cồn. Với chất lượng xạ trị tốt, thuốc đặc trị hiệu quả, phát hiện bệnh sớm nên người bệnh có mức sống còn đến khoảng 60-70%.
Trần Hưng
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 149

Số lượt truy cập: 9370184

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang