
Tại Hội nghị Phẩu thuật Thần kinh Việt Nam lần thứ 16 được tổ chức tháng 12/2015 tại TP Nha Trang, nhóm nghiên cứu Nguyễn Kim Chung và cộng sự Khoa Ngoại Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy đã báo cáo “Vi phẩu thuật túi phình động mạch não”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2014 đến tháng 12/2014, có 292 trường hợp bệnh nhân được chẩn đoán là túi phình động mạch não và được phẩu thuật tại Khoa Ngoại Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 51,17; trường hợp trẻ nhất là 11 tuổi, lớn nhất là 81 tuổi. Tỷ lệ nam/ nữ là 1/1. Có 92 trường hợp (31,1%) có tiền căn tăng huyết áp. Thời gian trung bình từ khi có triệu chứng đầu tiên đến khi nhập viện là 2,57 ngày, còn tính từ khi nhập viện đến khi phẩu thuật là 3,77 ngày.
Theo tác giả nghiên cứu, có 265 (90,7%) trường hợp phẩu thuật cấp cứu, số còn lại phẩu thuật theo chương trình do tình trạng bệnh nhân nặng, túi phình ở vị trí khó hoặc có các bệnh lý khác nặng kèm theo. Về triệu chứng khởi phát có 81% trường hợp đau đầu và 16% đột quỵ. Đánh giá lâm sàng theo phân độ WFNS (World Federation of Neurological Surgeons Scale), đây là phân độ được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình trạng lâm sàng xuất huyết khoang dưới nhện, là yếu tố tiên lượng kết quả điều trị cho người bệnh. Theo phân độ WFNS độ 1 chiếm tỷ lệ 60%; độ 2 có 22,3%; độ 3 có 7%; độ 4 có 10,6% và độ 5 có 01 trường hợp. Còn đối với phân độ xuất huyết dưới nhện theo Fisher Grad đánh giá mức độ xuất huyết khoang dưới nhện, độ I chiếm tỷ lệ 16%; độ 2 có 62%; độ 3 có 9,5% và độ 4 gần 12%. Tổng số 292 trường hợp nghiên cứu có 321 túi phình động mạch não; trong đó có 01 trường hợp 4 túi phình, 03 trường hợo có 3 túi phình, 08 trường hợp có 2 túi phình.
Theo BS.Nguyễn Kim Chung báo cáo, chỉ có 05 trường hợp được kẹp hai túi phình cùng một cuộc mổ. Túi phình động mạch thông trước chiếm tỷ lệ nhiều nhất gần 47%; tiếp đến là túi phình cảnh trong- thông sau. Về kích thước trung bình túi phình là 5,26mm; kích thước cổ túi phình 3,09mm. Có 12 trường hợp túi phình động mạch cảnh trong nằm ở đoạn mấu giường trước. Tỷ lệ túi phình vỡ là 284 trường hợp (97%); chỉ có 08 trường hợp bệnh nhân phát hiện túi phình động mạch não do tình cờ đi khám bệnh.
Đối với tình trạng co mạch, có 48% trường hợp có co mạch trên hình ảnh chụp CTA, DSA; có triệu chứng chiếm tỷ lệ 10,6%, không có triệu chứng chiếm tỷ lệ hơn 37%. Theo nhóm nghiên cứu, phương pháp chẩn đoán chính là chụp mạch não xóa nền (DSA) chiếm 66,1%; phương pháp CTA chiếm 32,2% trong chẩn đoán; tuy nhiên vai trò của CTA đang ngày càng quan trọng có thể thay thế DSA, CTA là kỹ thuật ít xâm lấn, nhanh và tỷ lệ phát hiện túi phình động mạch não cao. BS.Chung lưu ý sau khi phẩu thuật có 93,4% trường hợp kẹp túi phình được chụp kiểm tra mạch não bằng CTA hoặc DSA. Có 19 trường hợp tử vong vì vậy không có kết quả chụp kiểm tra do gia đình không đồng ý.
Kết quả phẩu thuật kẹp túi phình động mạch não hết cổ là 253 trường hợp, đạt tỷ lệ 86,6%; có 14 trường hợp còn cổ (4,8%). 254 bệnh nhân xuất viện trong tình trạng tốt. Đối với biến chứng mổ sọ giải ép đơn thuần sau mổ kẹp túi phình gặp 11 trường hợp (3,7%); mổ giải ép và lấy máu tụ 08 trường hợp (2,7%); có 09/19 trường hợp tử vong sau phẩu thuật lần 2, viêm màng não sau phẩu thuật có 07 trường hợp.
BS. Nguyễn Kim Chung báo cáo túi phình động mạch não chiếm ưu thế ở nhóm tuổi 35-60; túi phình động mạch não vỡ ở khoảng lứa tuổi 50 và ít khi có triệu chứng báo hiệu. Về tiên lượng bệnh nhân có 08 yếu tố phân độ lâm sàng WFNS gồm grad, tuổi, tiền sử cao huyết áp, huyết áp khi nhập viện, kích thước túi phình, vị trí túi phình, độ dày của cục máu tụ và tình trạng co mạch. Như vậy những bệnh nhân có tiền căn cao huyết áp thường có tỷ lệ vỡ cao hơn và tỷ lệ tái xuất huyết cũng cao hơn.
Phẩu thuật là phương pháp điều trị ngoại khoa chủ yếu trong bệnh lý túi phình động mạch não, mục đích của phẫu thuật là sử dụng một loại kẹp kim loại nhỏ để kẹp cổ túi phình. Hiện nay, với sự phát triển nhanh của các phương tiện và dụng cụ hỗ trợ cho vi phẩu thuật cũng như can thiệp nội mạch, nên việc điều trị túi phình động mạch não trở nên tốt hơn rất nhiều. Trong nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, số lượng bệnh nhân điều trị túi phình động mạch não tương đương nhau đối với cả hai phương pháp. Nghiên cứu của BS.Nguyễn Kim Cung và cộng sự được thực hiện đều là phẩu thuật cấp cứu túi phình động mạch não vỡ, đây là can thiệp cần thiết góp phần giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế cao do vỡ túi phình lần 2.
Ngô Thanh