
Ngày 21-22/12/2015, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức Hội thảo cột sống Quốc tế lần thứ 7 và khóa chuyển giao kỹ thuật phẫu thuật cột sống lần thứ 6.
Ts. UKei Anazawa khoa phẫu thuật chỉnh hình Bệnh viện Ichikawa- Nhật Bản đã báo cáo đề tài “Chiến lược gần đây cho điều trị ung thư di căn cột sống tại Nhật Bản”. Theo Ts. UKei Anazawa, điều trị ung thư di căn cột sống là một nhiệm vụ đầy thách đố với nhiều vấn đề chưa giải quyết như chỉ định phẫu thuật, chọn lựa phương pháp phẫu thuật, thời gian phẫu thuật…Để chỉ định phẫu thuật tổn thương ung thư di căn, phẫu thuật viên phải chú ý những đặc tính của tổn thương nguyên phát, sự nhạy của xạ trị, hóa trị, các kết quả phim X quang, sự tiêu hủy hay sinh tạo xương. Tại Nhật Bản rất quan tâm đến quá trình biến đổi xương, sử dụng thuốc làm ngăn cản những nguyên cốt bào như zoledronic axit, denosumab đã được áp dụng hiệu quả cho quá trình điều trị chọn lọc đối với ung thư di căn cột sống.
Những nghiên cứu lâm sàng đã phát hiện việc điều trị cho người bệnh từ những chất biến đổi xương này là chìa khóa giúp thành công cho những phẫu thuật điều trị ung thư cột sống và tái lập được sự vững chắc của cột sống. Đối với những bệnh nhân bị liệt thần kinh do ung thư di căn, cần phẫu thuật càng sớm càng tốt. Để quyết định thời gian mổ, phương pháp phẫu thuật khác nhau cho mỗi bệnh nhân, các phẫu thuật viên xem xét đến mức độ nặng của liệt thần kinh, kích thước của thương tổn ung thư di căn, những yếu tố gây tổn thương mô thần kinh, sự mất vững của cột sống có kèm theo gãy xương bệnh lý, sự xâm lấn của ung thư di căn.
Ts Yasuhisa Tanaka Bệnh viện Tohoku Yamagata Nhật Bản, báo cáo chuyên đề “Phẫu thuật tạo hình lỗ liên hợp lối sau cho bệnh lý rễ thần kinh cổ”.
Theo Ts Yasuhisa Tanaka, từ đầu thế kỷ 20 đến năm 1950, trên thế giới chỉ có phẫu thuật lối sau cho bệnh nhân cột sống cổ. Điều trị phẫu thuật bệnh lý rễ thần kinh cột sống cổ có mục tiêu là lấy bỏ khối thoát vị bằng cách cắt bản sống toàn bộ hoặc bán phần. Sau đó bệnh lý rễ thần kinh cổ được nhận thức rõ ràng và đầy đủ hơn, phẫu thuật tạo hình lỗ liên hợp lối sau được xem là một phẫu thuật can thiệp tinh tế cho các vùng rễ thần kinh bệnh lý. Đến năm 1950, phẫu thuật lối trước được phát triển dần thay thế cho phẫu thuật tạo hình lỗ liên hợp lối sau vì không cần thám sát rễ thần kinh và tình trạng chảy máu ngoài màng cứng không đáng kể. Tuy nhiên phẫu thuật hàn xương lối trước hiếm khi cho kết quả hoàn toàn do có các biến chứng khi đặt ghép như trật ghép, ghép không lành xương, đau chỗ lấy ghép, thời gian người bệnh nằm viện lâu…Đến năm 1970 phát triển kỹ thuật phẫu thuật lối trước không hàn xương được áp dụng điều trị cho người bệnh rễ thần kinh cổ. Phẫu thuật này cổ ít bị tổn thương hơn, cho phép người bệnh trở lại cuộc sống sớm hơn, tuy nhiên nhược điểm là biến chứng còng cột sống xảy ra nhiều hơn. Đến năm 1980 cùng với sự phát triển của kính hiển vi phẫu thuật, dụng cụ vi phẫu, máy đốt cầm máu lưỡng cực, phẫu thuật tạo hình lỗ liên hợp lối sau phát triển bùng nổ trở lại và là phẫu thuật có tổn thương xâm lấn tối thiểu.
Theo Ts Tanaka, phẫu thuật tạo hình bản sống lối sau do ông thực hiện không sử dụng kính hiển vi phẫu thuật, quá trình phẫu thuật là mở rộng lỗ liên hợp, lấy bỏ một phần chân cung trên và dưới rễ thần kinh liên quan. Sau đó thông qua không gian vừa mở rộng rãi này, rễ thần kinh được giải ép an toàn.
Chỉ định tối ưu cho phẫu thuật tạo hình lỗ liên hợp lối sau là bệnh lý rễ thần kinh do thoát vị bên, gai cột sống tại mỏm Luschka hoặc gai cột sống tại khối mấu khớp.
Tại Hội thảo, Ts Hiroshi Ozawa, khoa Phẫu thuật Chỉnh hình Đại học Tohoku Nhật Bản, báo cáo chuyên đề “Cắt ngắn cột sống 3 chiều cho bệnh nhân cao tuổi còng vẹo cột sống”.
Theo TS.Hiroshi bệnh nhân gù vẹo cột sống ngoài các triệu chứng gù cột sống, đau và liệt chi dưới do sự xâm lấn của các rễ thần kinh trong ống sống, người bệnh còn đau lưng không đối xứng, than phiền đau ở mặt sau của bên lồi. Điều trị dị tật cột sống thắt lưng là tập thể dục cơ lưng, đeo nẹp và phẫu thuật. Mục đích của phẫu thuật là phục hồi hình dáng bình thường, bù trừ chức năng cơ thắt lưng. Đối với phẫu thuật còng vẹo cột sống bác sỹ phải xem xét không chỉ cân bằng dọc mà còn cân bằng ngang.
Hiện nay, theo TS.Hiroshi có 3 phương pháp phẫu thuật để chỉnh sửa: kỹ thuật mổ xương cột sống thông qua cách tiếp cận sau, hàn liên thân đốt thắt lưng lối sau nhiều tầng và hàn, nắn chỉnh cả trước và sau. Tại Bệnh viện, BS.Hiroshi phát triển kỹ thuật cắt xương 3 chiều cột sống cho các trường hợp gù vẹo nặng.
Phương pháp được thực hiện cắt xương của phần trên thân đốt sống và loại bỏ các đĩa sống, thay đổi sự dóng hàng bằng cách sử dụng hệ thống móc nhỏ và nắn chỉnh đốt sống bằng ốc chân cung và hệ thống móc. Qua thực hiện trên 5 bệnh nhân, tuổi trung bình là 65 tuổi, cho thấy thời gian phẫu thuật và lượng mất máu cao hơn khoảng 1,5 lần so với kỹ thuật cắt xương trên một mặt phẳng cho bệnh nhân gù cột sống. Các góc ưỡn cột sống đã được sửa chữa đạt 45 độ sau khi phẫu thuật. Không có biến chứng toàn thân và thần kinh sau mổ. Theo TS.Hiroshi phẫu thuật cắt ngắn cột sống 3 chiều cho bệnh nhân cao tuổi còng vẹo cột sống là phương pháp lý tưởng, tuy nhiên trong thời gian đến cần chú ý giảm thiểu sự xâm nhập của phẫu thuật là rất cần thiết.
Được biết tại Hội thảo, ngày 21/12/2015, PGS TS.Võ Văn Thành chủ tịch Hội Cột sống thành phố Hồ Chí Minh, các giáo sư, tiến sỹ Nhật Bản và các bác sĩ Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh đến thực hiện chuyển giao cho các Bs trẻ Khoa Ngoại Cột sống tỉnh Khánh Hòa 8 trường hợp phẫu thuật cột sống khó, phức tạp.
Nguyễn Phương