
Tại hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức tháng 12/2015, BS Phạm Văn Hùng cùng cộng sự Khoa Nội Tim mạch – Bệnh viện Đà Nẵng đã báo cáo nghiên cứu “ Đánh giá kết quả chụp và can thiệp động mạch vành qua da”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10/2006 đến tháng 12/2014 bao gồm các bệnh nhân bệnh mạch vành được chụp và can thiệp động mạch vành qua da tại Bệnh viện Đà Nẵng, có 2 nhóm đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân bệnh mạch vành và nhóm bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên.
Kết quả nghiên cứu có 3561 người tham gia nghiên cứu, nam giới chiếm 72,5%; độ tuổi từ 25 – 95, trung bình là 56,9 tuổi. Đối với các yếu tố nguy cơ tim mạch; Tăng huyết áp chiếm gần 60%; Đái tháo đường typ 2 chiếm 30%; Rối loạn lipit máu 56%; hút thuốc lá 19% và yếu tố gia đình 7,3%. Về chẩn đoán lâm sàng, có 844 bệnh nhân (23,7%) được chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên; 228 bệnh nhân (6,4%) nhồi máu cơ tim không ST chênh lên; gần 49% bệnh nhân đau thắt ngực không ổn định; 18% đau thắt ngực ổn định; Vị trí tổn thương động mạch vành chiếm tỷ lệ nhiều nhất là động mạch liên thất trước 42,3%; động mạch vành phải 32,7%; động mạch mũ có tỷ lệ hơn 18%. Số bệnh nhân có 2 động mạch vành tổn thương là 708 người, tổn thương 3 động mạch vành là 291 người. Số lượng mạch can thiệp 1 mạch là 1027 bệnh nhân (75%); 2 mạch là 348 bệnh nhân (26,3%); không có trường hợp bệnh nhân nào can thiệp 3 động mạch vành.
Theo nhóm tác giả nghiên cứu, có 464 bệnh nhân (33,7%) can thiệp động mạch vành thì đầu trong nhồi máu cơ tim cấp; trong đó nam giới nhiều hơn nữ giới gần 3 lần. Bệnh nhân trẻ nhất là 25 tuổi, lớn nhất 94 tuổi; tuổi trung bình là 58,7; bệnh mạch vành thường gặp ở nhóm bệnh nhân trên 50 tuổi (78,8%). Khảo sát các yếu tố nguy cơ; rối loạn lipit máu; tăng huyết áp và đái tháo đường typ 2 là các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh mạch vành; phù hợp với mô hình bệnh tật ở Việt Nam đó là sự gia tăng nhóm bệnh nhân mắc các bệnh lý rối loạn chuyển hóa glucose, lipit và tăng huyết áp trong cộng đồng. Ngoại trừ các bệnh nhân được chụp động mạch vành trước phẫu thuật thay van tim, phần lớn bệnh nhân nhập viện với triệu chứng đau ngực với các mức độ và biểu hiện khác nhau; trong đó đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim có/không ST chênh lên chiếm đa số với tỷ lệ tương ứng 48,9% và 30,1%.
Số bệnh nhân được can thiệp động mạch vành tăng qua từng năm; năm 2007 có 37 bệnh nhân được can thiệp thì năm 2014 có 334 trường hợp được can thiệp với quy trình, kỹ năng can thiệp ngày càng hoàn thiện hơn. Theo nhóm nghiên cứu, can thiệp động mạch vành thì đầu trong điều trị nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên nhằm nhanh chóng phục hồi dòng chảy động mạch vành thủ phạm, cải thiện khả năng sống còn của vùng cơ tim bị thiếu máu cục bộ. Có 464 bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên được can thiệp động mạch vành thì đầu chiếm 33,7% các trường hợp can thiệp. Tác giả nghiên cứu có nhận xét bệnh nhân nhồi máu cơ tim có khuynh hướng trẻ hóa, tỷ lệ 12,1% bệnh nhân được can thiệp có độ tuổi dưới 50; trong đó bệnh nhân trẻ nhất là 25 tuổi bị nhồi máu cơ tim cấp trước rộng; điều này chỉ ra các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, rối loạn lipit máu, tiền sử gia đình BS.Hùng lưu ý.
Theo nhóm nghiên cứu, nhiều báo cáo trên thế giới đã chỉ ra thời gian từ khi bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp tiếp xúc với nhân viên y tế đầu tiên cho đến khi được can thiệp động mạch vành càng ngắn thì càng làm giảm nguy cơ tử vong và làm giảm các biến chứng đồng thời làm tăng khả năng sống sót trước mắt cũng như lâu dài. Trong nghiên cứu của tác giả, thời gian cửa – bóng trung bình là 130 + 58 phút; trong đó gần 40% trường hợp đạt mục tiêu điều trị theo khuyến cáo của ACC/AHA (thời gian cửa – bóng dưới 90 phút). Nhiều nghiên cứu trong nước cho thấy thời gian cửa – bóng trong can thiệp động mạch vành thì đầu ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên với thời gian cửa – bóng trung bình thay đổi từ 73 phút đến 249 phút, thời gian này ảnh hưởng bởi các yếu tố: thời gian từ khi đau ngực đến khi vào bệnh viện có khả năng can thiệp động mạch vành; phân độ và biến chứng nhồi máu cơ tim cấp (có phải hồi sức tim mạch hay không); thời gian nhập viện (trong hay ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ); khả năng kinh tế và bảo hiểm y tế; nhóm cán bộ y tế thực hiện tim mạch can thiệp thường trực 24/24 giờ. Vì vậy cần có sự nỗ lực từ người bệnh; người nhà bệnh nhân; Trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng cấp cứu, đơn vị can thiệp mạch vành … để đạt mục tiêu điều trị theo khuyến cáo của ACC/AHA.
Đánh giá hiệu quả sau can thiệp động mạch vành, thành công thủ thuật – lâm sàng của nghiên cứu là 92,7% và 91,3%; tỷ lệ tái tưới máu thành công khá cao. Tỷ lệ thất bại thủ thuật của nghiên cứu là 7,3% chủ yếu ở trường hợp tổn thương tắc hoàn toàn mạn tính, tổn thương xơ vữa, vôi hóa nặng nề và ảnh hưởng nhiều nhánh động mạch vành. Các rối loạn nhịp hay gặp là bloc nhĩ – thất độ 3 cần phải đặt máy tạo nhịp tạm thời (11,8%); nhịp nhanh thất và rung thất (6,3%) được chuyển nhịp bằng thuốc hoặc sốc điện, tuy nhiên khó phân biệt biến chứng này xảy ra do diễn biến nhồi máu cơ tim hay do biến chứng của thủ thuật can thiệp mạch vành. Có 2,6% huyết khối sớm trong stent; 0,8% tai biến mạch máu não và 0,6% thủng mạch vành.
Anh Huy