[Đăng ngày: 28/09/2017]
Thông liên nhĩ là bệnh tim bẩm sinh thường gặp ở người lớn, chiếm tỷ lệ 5-10%. Bệnh có nhiều dạng, dạng thường gặp là thông liên nhĩ lỗ thứ phát chiếm 75% các trường hợp. Các dạng ít hơn là thông liên nhĩ lỗ nguyên phát; thông liên nhĩ thể xoang tĩnh mạch, thông liên nhĩ thể xoang vành. Điều trị kinh điển đóng lỗ thông liên nhĩ là phẫu thuật tim vá lỗ thông cho tỷ lệ thành công cao.

Vào năm 1974, tác giả King và Mills lần đầu tiên trên thế giới đã đóng thông liên nhĩ bằng dụng cụ dù đôi, thực hiện 5 ca đầu tiên. Từ đó, dụng cụ đóng thông liên nhĩ ngày càng được cải tiến như rashkind, Clamsell, Amplatzer, Helex, StarFlex, Sideris Button. Các nghiên cứu đã cho thấy, bít dù thông liên nhĩ bằng dụng cụ qua ống thông là phương pháp điều trị khả thi, an toàn thay thế cho phương pháp phẫu thuật trong điều trị thông liên nhĩ.

Theo các chuyên gia tim mạch, khi thực hiện thủ thuật bít dù thông liên nhĩ bằng dụng cụ qua ống thông, bệnh nhân được siêu âm tim qua thực quản, do vậy thường gây mê người bệnh. Hiện nay, siêu âm trong buồng tim (ICE) đã giúp hỗ trợ cho bác sĩ với chất lượng hình ảnh rất tốt, đa diện, phổ Doppler màu rất rõ ràng, bệnh nhân không cần gây mê.

Từ tháng 12/2009 đến tháng 8/2010, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Thượng Nghĩa cùng cộng sự bệnh viện Chợ Rẫy đã thực hiện nghiên cứu mở, tiến cứu, thống kê mô tả, báo cáo đề tài “Đóng thông liên nhĩ qua ống thông dưới hướng dẫn của siêu âm trong buồng tim”. Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Tim mạch can thiệp bệnh viện Chợ Rẫy; đối tượng nghiên cứu là tất cả bệnh nhân thông liên nhĩ lỗ thứ phát, vị trí giải phẫu và kích thước lỗ thông thích hợp cho bít dù trên siêu âm tim qua thực quản. Tiêu chuẩn loại trừ là thông liên nhĩ nguyên phát; thể xoang tĩnh mạch, có trở về tĩnh mạch phổi bất thường. Phình vách liên nhĩ trên siêu âm tim được xác định khi phình vách chuyển động với biên độ dao động ≥ 15mm trong chu chuyển tim. Các bệnh nhân được xét nghiệm máu, ECG, Xquang tim phổi, siêu âm tim qua thành ngực, siêu âm tim qua thực quản, xác định các yếu tố tuổi, giới tính, kích thước lỗ thông, số lỗ thông, có phình vách liên nhĩ, tình trạng rìa của lỗ thông, áp lực động mạch phổi và tổn thương phối hợp nếu có.

Nhóm tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, có 40 đối tượng nghiên cứu, nữ chiếm 85%; tuổi trung bình 36,9; người nhỏ nhất 14 tuổi, lớn nhất 66 tuổi. BS Nghĩa cho biết ICE đã giúp hình ảnh vách liên nhĩ và các cấu trúc lân cận xung quanh được ghi nhận ở người bệnh với chất lượng hình ảnh rất tốt, chẩn đoán chính xác các loại lỗ thông liên nhĩ ít gặp như thông liên nhĩ thứ phát nhiều lỗ; thông liên nhĩ kèm phình vách liên nhĩ mà siêu âm tim qua thành ngực, qua thực quản thường bỏ sót. Siêu âm trong buồng tim (ICE) giúp hướng dẫn bít dù thông liên nhĩ bằng dụng cụ, tỷ lệ thành công 36/37 ca (97%). Nhờ ICE đo kích thước lỗ thông, chọn kích thước dù phù hợp để bít lỗ thông liên nhĩ; ICE giúp phát hiện ngay biến cố xảy ra trong quá trình thủ thuật để xử lý kịp thời.

BS Nghĩa cho biết, trong quá trình bít dù thông liên nhĩ bằng dụng cụ, vấn đề quan trọng nhất là hình ảnh dù thông liên nhĩ không bám đúng vị trí tại vách liên nhĩ, các rìa xung quanh vách liên nhĩ không thấy nằm giữa 2 đĩa của dụng cụ bít dù có thể gây biến chứng tuột dù, làm thuyên tắc mạch máu rất nguy hiểm sau khi thả dù tự do. Đo kích thước bằng bóng không chính xác hoặc bung dù không đúng chính xác. Siêu âm trong buồng tim giúp xác định chính xác các tổn thương phối hợp đi kèm như trở về bất thường của tĩnh mạch phổi, hoặc dạng thông liên nhĩ thứ phát nhiều lỗ từ đó giúp bác sĩ chọn kích thước dù phù hợp. Trong nghiên cứu có 1 ca thông liên nhĩ nhiều lỗ (fenestrations), nhóm nghiên cứu đã dùng dụng cụ bít dù đặc biệt để bít và thành công tốt đẹp.

BS Hiền nhận xét, ICE giúp đảm bảo vị trí chính xác của dù trong bít thông liên nhĩ tránh ảnh hưởng các van hai lá, ba lá, van động mạch chủ, các tĩnh mạch phổi hoặc các tĩnh mạch trung tâm.

Siêu âm trong buồng tim giúp quan sát rõ hình ảnh vách liên nhĩ với các rìa xung quanh, các cấu trúc lân cận và toàn bộ quá trình thực hiện thủ thuật. Các luồng thông tồn lưu sau khi bít bằng bóng; bằng dù đều tương ứng giữa siêu âm trong buồng tim và chụp buồng tim. Trong quá trình làm thủ thuật, hình ảnh tương ứng giữa dù ASO và vách liên nhĩ được quan sát rõ ràng nên bác sĩ có thể điều chỉnh vị trí dù ASO chính xác để quá trình bung ra từng đĩa của dù ASO ở vị trí song song với vách liên nhĩ và mô vách liên nhĩ được quan sát nằm kẹp giữa 2 đĩa của dù ASO. Nhờ đầu dò có độ phân giải cao, xoay dễ dàng mọi hướng trong buồng nhĩ, vị trí xoang tĩnh mạch, tĩnh mạch phổi đều được quan sát rõ trên siêu âm trong buồng tim. Các vùng này khó phát hiện đối với siêu âm tim qua thực quản, qua thành ngực.

BS Nghĩa cho biết hạn chế của siêu âm tim trong buồng tim là người bác sĩ phải giỏi giải phẫu học tim, đặc biệt khi quan sát từ bên trong tim (nhĩ phải), người bác sĩ phải có thời gian để quen thuộc với mặt cắt này trong buồng tim như mặt cắt cơ bản (home view); mặt cắt 2 buồng nhĩ (atrial view); mặt cắt qua 2 tĩnh mạch chủ (bicaval view); mặt cắt ngang van động mạch chủ (aortic view), mặt cắt vách liên nhĩ.
Nghi Anh
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 507

Số lượt truy cập: 9357557

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang