Mức độ xơ hoá của gan rất quan trọng trong việc quản lý, điều trị và tiên lượng bệnh viêm gan mạn tính. Phân loại mức độ xơ hoá gan theo phân độ Metavir là công cụ hữu ích để phục vụ cho mục đích này.

Theo các chuyên gia gan mật, sinh thiết gan được xem là tiêu chuẩn vàng để đánh giá mức độ xơ hoá của gan. Tuy nhiên, đây là thủ thuật xâm lấn có thể gây biến chứng như chảy máu, nhiễm trùng, nặng nhất là tử vong; có khi từ lỗi lấy mẫu, sự chủ quan của người đọc kết quả. Siêu âm Fibroscan sử dụng sóng siêu âm và sóng đàn hồi tần số thấp để đo độ cứng của gan. Tuỳ theo độ cứng của gan đo được sẽ tương ứng với giai đoạn xơ hoá theo hệ thống điểm Metavir.
Từ tháng 10/2012 đến tháng 4/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Lư Quốc Hùng cùng các cộng sự Bệnh viện Hạnh Phúc tỉnh An Giang, Bệnh viện Quân Y 103 đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài So sánh chỉ số Fibroscan và mô bệnh học trong bệnh xơ gan”. Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân được chẩn đoán xác định viêm gan mạn tính kéo dài hơn 6 tháng; chẩn đoán dựa vào kết quả mô bệnh học các đối tượng nghiên cứu tại Bệnh viện Hạnh phúc, Bệnh viện Thống Nhất khoa Tiêu hoá phòng khám viêm gan. Tiêu chuẩn loại trừ đối với những bệnh nhân béo phì BMI > 25; bệnh nhân viêm gan mạn tính có biến chứng xơ gan. Bệnh nhân làm siêu âm 2D có khối u trong gan; phụ nữ có thai; mảnh sinh thiết gan không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán mô bệnh học; kết quả siêu âm Fibroscan không được chấp nhận. Lâm sàng chẩn đoán xác định viêm gan mạn tính gồm triệu chứng cơ năng toàn thân mệt mỏi, kém ăn, sốt, đầy bụng, chậm tiêu, đi ngoài phân lỏng. Bệnh nhân có thể đau nhẹ hoặc nặng vùng gan, gan to chắc. Các khớp xương đau có tính chất đối xứng, ít khi sưng đau nhiều khớp, tái phát nhiều lần nhưng không để lại di chứng, không làm biến dạng khớp. Thay đổi ngoài da: da sạm, khô, giản mạch, sao mạch, trứng cá, mày đay.
Tác giả cho biết về siêu âm gan đậm độ ECHO không đều, đường mật không giãn, túi mật thành dày, kích thước tĩnh mạch cửa bình thường (dưới 3cm); không thấy khối bất thường trong gan. Xét nghiệm AST, ALT tăng ít nhất gấp 2 lần giá trị bình thường cao. Bilirubin máu tăng trên 20 µmol/dL; chủ yếu là Bilirubin trực tiếp. Viêm gan mạn do vi rút viêm gan B có HbsAg(+) ít nhất 6 tháng; Anti HCV (-), không uống rượu. Đối với viêm gan vi rút C dựa vào Anti-HCV(+); HbsAg(-), không uống rượu. Đối với viêm gan mạn tính do rượu bệnh nhân tiền sử uống rượu nhiều, nam uống 80g rượu/ ngày, nữ uống 40g/ rượu ngày trong thời gian 10 năm. HbsAg(-); Anti-HCV(-).
Tác giả nghiên cứu phân tích có 92 đối tượng nghiên cứu phù hợp tự nguyện tham gia nghiên cứu. Nam giới chiếm tỷ lệ 58,7%; nữ giới 41,3%; bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 20, lớn nhất là 77 tuổi. Nhóm bệnh nhân độ tuổi từ 51-60 chiếm 26,1%; 61-77 tuổi chiếm cao nhất 48%.
Về đặc điểm mô bệnh học của bệnh nhân xơ gan, khoảng cửa gan viêm bằng 0 chiếm tỷ lệ 4,3%; viêm khoảng cửa bằng 3 chiếm 45,7%. Mức độ viêm hoạt động gia tăng theo một trình tự từ thấp đến cao, có mức Ao có tỷ lệ thấp nhất 10,9%; cao nhất là mức A3 với 56,5%. Đối với những tổn thương nặng, rất nặng trong nghiên cứu là kết quả của sự phát triển xơ hoá đã kéo dài. Tác giả nghiên cứu cho rằng cần theo dõi sát những trường hợp nặng này để điều trị kịp thời, có chỉ định ghép gan.
Tác giả nghiên cứu cho biết, về tăng liên kết xơ của đối tượng nghiên cứu; điểm xơ hoá FO chiếm tỷ lệ 10,9%; điểm xơ hoá F4 cao nhất với tỷ lệ 32,6%. Tác giả có nhận xét, điểm liên kết trong nghiên cứu đi từ tỷ lệ thấp đến tỷ lệ cao, cho thấy có phân hoá rõ về tình trạng nặng nhẹ của xơ gan; hoặc nhận xét là từ tiến triển xơ hoá nhẹ đến xơ hoá nặng. Đối với đặc điểm của Fibroscan, đối tượng nghiên cứu được thực hiện đo độ đàn hồi gan, kết quả cho thấy F4 có tỷ lệ cao nhất với 52,2%; F3 21,7%; F2 17,4%; F1 8,7% và F0 là 0,0%. Trung vị độ xơ cứng của gan 15,1 kPa, nhỏ nhất 3,8 kPa và cao nhất 75 kPa. Tác giả có nhận định, đo độ đàn hồi của gan bằng Fibroscan là phương tiện có nhiều ưu điểm để chẩn đoán xơ hoá gan trong từng giai đoạn đi từ nhẹ đến nặng và phù hợp với bảng phân loại theo thang điểm của Child-Pugh.
Chúng ta biết rằng xơ gan là một bệnh gan mạn tính trong đó tế bào gan bị thoái hoá hoại tử và được thay thế bởi những tế bào gan tân sinh và các dải xơ làm cho cấu trúc tiểu thuỳ gan bị thay đổi thành những nốt tân sinh không có chức năng. Mặc dù có nhiều nguyên nhân bệnh nhưng kết quả cuối cùng của bệnh thì giống nhau. Tình trạng xơ hoá tiến triển làm biến dạng cấu trúc của gan tạo thành sẹo xơ hoá và sau đó phát triển thành các nốt tế bào gan tân sinh thành xơ gan. Khác với xơ hoá, xơ hoá có thể hồi phục còn xơ gan là một tiến trình không hồi phục. Xơ gan hình thành như một hậu quả khi xơ hoá bắc cầu cuối cùng kèm với các nốt tân sinh. Tuỳ theo mức độ xơ hoá và kiểu nốt, xơ gan được phân chia thành các giai đoạn phát triển khác nhau: xơ gan vách không hoàn toàn (xơ hoá bắc cầu không hoàn toàn, không có nốt); xơ gan giai đoạn sớm (xơ hoá bắc cầu mỏng có các nốt dissecting), xơ gan tiến triển trung bình (xơ hoá bắc cầu dày các nốt rời rạc) và xơ gan tiến triển (vách to có các nốt tăng sản tân sinh).
Anh Huy