[Đăng ngày: 13/09/2017]
Sỏi tiết niệu được tạo nên trên cơ sở lắng đọng và kết dính một lượng lớn các tinh thể và các thành phần hữu cơ khác, trong những điều kiện lý hóa nhất định. Sỏi gây tắc đường tiết niệu, gây nhiễm khuẩn và suy thận, gây nguy hại sức khỏe và tính mạng người bệnh.

Theo các chuyên gia niệu học, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã giúp y học hiện nay có nhiều phương pháp xâm nhập tối thiểu áp dụng để điều trị sỏi thận; cụ thể như tán sỏi ngoài cơ thể; nội soi lấy sỏi thận qua da, nội soi niệu quản ngược dòng. Các phương pháp đã nêu giúp cho những kết quả điều trị khả quan; làm tỷ lệ mổ mở kinh điển điều trị sỏi tiết niệu giảm xuống rõ rệt. Các chuyên gia lưu ý, vấn đề tồn tại trong điều trị sỏi thận là điều trị các sỏi ở đài thận, đặc biệt là các sỏi còn sót lại sau phẫu thuật, sau thủ thuật mà không thành công. Các nhà chuyên môn đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để giảm tình trạng sót sỏi, điều trị những sỏi ở các vị trí khó tiếp cận, trong đó có phương pháp nội soi niệu quản thận ngược dòng bằng ống soi mềm tán sỏi với năng lượng laser Holmium. Tại Việt Nam kỹ thuật này mới chỉ áp dụng tại một số bệnh viện như bệnh viện Trung ương Huế, bệnh viện Bình Dân Thành phố Hồ Chí Minh…

Từ tháng 9/2010 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Ngọc Hùng cùng cộng sự thực hiện đề tài nghiên cứu “Ứng dụng nội soi mềm niệu quản ngược dòng tán sỏi đài thận bằng laser Holmium”. Theo tác giả nghiên cứu, có 78 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu. Phương tiện nghiên cứu gồm có máy nội soi mềm 6 Fr; Sheath niệu quản 12-14 Fr; máy laser Holmium với probe 200µm và 230 µm.

BS Phạm Ngọc Hùng cho biết, về kỹ thuật thực hiện, bệnh nhân được đặt JJ niệu quản cùng bên trước mổ tối thiểu 1 tuần. Bệnh nhân được vô cảm bằng gây mê nội khí quản; tiến hành nội soi bàng quang; rút JJ niệu quản; đặt guidewire có thân cứng lên niệu quản đến bể thận có quan sát của C-arm. Nhẹ nhàng đưa sheath niệu quản lên dần theo guidewire đến bể thận. Rút bỏ nòng trong sheath, đưa ống soi mềm lên khảo sát từ bể thận, các đài thận. Tiếp cận sỏi trong đài thận, sử dụng laser với vỏ bọc tán vỡ sỏi. Xác định sỏi vỡ thấy trực tiếp trên quang trường hoặc không còn thấy mảnh sỏi trên C-arm. Kết quả ngay trong mổ thành công là chỉ còn bụi sỏi hoặc vụn sỏi ≤ 4 mm tại chỗ hoặc không thấy sỏi trên màn hình tăng sáng C-arm. Kết quả thất bại là khi không tiếp cận được sỏi, không tán được sỏi hoặc các mảnh sỏi > 4 mm. 

BS Phạm Ngọc Hùng phân tích, tuổi tiến hành của đối tượng nghiên cứu là 49,31; có 19% đối tượng nghiên cứu chưa can thiệp; 34,6 % đối tượng nghiên cứu đã mổ lấy sỏi thận; 10,3 % bệnh nhân đã mổ lấy sỏi niệu quản. Có 4 trường hợp (5,1%) can thiệp NSM với thận độc nhất, trong đó có 1 trường hợp thận độc nhất bẩm sinh, 1 trường hợp đã cắt thận đối diện do mất chức năng và có 2 trường hợp thận đối diện mất chức năng.

Về đặc điểm sỏi, kích thước sỏi trung bình là 17,78 mm; số lượng sỏi 1,78 viên; có 34,6% đặc điểm sỏi đài dưới đơn thuần; 39,7% đài dưới kết hợp vị trí khác; về độ ứ nước thận: không ứ nước là 29,5%, ứ nước độ 1 là 42,3%, độ 2 là 26,9% và độ 3 là 1,3%. Có 31 đối tượng nghiên cứu chỉ có 1 viên sỏi chiếm tỉ lệ 39,7% tổng số có 139 viên sỏi trong 78 đối tượng nghiên cứu.

BS Hùng cho biết, phương pháp lấy sỏi thận qua da được xem như tiêu chuẩn vàng được lựa chọn cho sỏi có kích thước lớn hơn 20 mm, tỉ lệ sạch sỏi từ 85 – 95%, phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể áp dụng cho sỏi có kích thước dưới 20 mm. Hiện nay phương pháp nội soi mềm là một lựa chọn lý tưởng, cùng với kinh nghiệm trong thao tác của phẫu thuật viên và tiến bộ của công nghệ góp phần tạo nên thành công của kỹ thuật. BS Hùng lưu ý, nguồn năng lượng laser tán sỏi đóng vai trò gần như quyết định. Với những dây tán nhỏ, không ảnh hưởng nhiều đến độ gập của ống soi giúp tăng khả năng tiếp cận và tán sỏi.

BS Hùng báo cáo, trong nghiên cứu tỉ lệ thành công ngay trong mổ là 71,8%. Tỉ lệ sạch sỏi sau 3 tháng của  nghiên cứu là 74,4%. Nhóm nghiên cứu chỉ thực hiện một lần tán, sau đó hỗ trợ tán sỏi ngoài cơ thể, lấy sỏi thận qua da và nội soi niệu quản ngược dòng.

Các tai biến có thể xảy ra của nội soi mềm là chảy máu, tổn thương niệu quản bể thận hay sốt, nhiễm trùng. Nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Hùng không có trường hợp nào bị tai biến; chỉ có 3 trường hợp sốt và 1 trường hợp sốc nhiễm trùng sau mổ chỉ điều trị nội khoa. Tuy nhiên có trường hợp bị hỏng máy đang lúc thao tác nhất là những trường hợp sỏi có kích thước lớn rất dễ hỏng ống soi và hỏng laser, BS Hùng lưu ý. Kết luận cho nghiên cứu, tác giả nghiên cứu cho rằng phương pháp nội soi mềm tán sỏi bằng laser là phương pháp cho thấy an toàn, hiệu quả điều trị sỏi thận. Phương pháp này giúp cho các bác sĩ và người bệnh có thêm một chọn lựa điều trị để có kết quả cao và giảm tai biến của bệnh./.
Nguyên Khải
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 386

Số lượt truy cập: 9357717

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang