[Đăng ngày: 28/09/2017]
Hiện nay, trong lĩnh vực chẩn đoán, điều trị các bệnh lý về mắt đã ứng dụng được nhiều sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Các tiến bộ này đã giúp việc chẩn đoán, điều trị, theo dõi các bệnh lý võng mạc mà so với thời gian trước đây rất khó để chẩn đoán chính xác bệnh.

Theo BS Nguyễn Quốc Đạt, từ năm 2011, Bệnh viện Mắt Đà Nẵng đã áp dụng kỹ thuật chụp cắt lớp võng mạc bằng máy 3D OCT Topcon 1000; kỹ thuật này đã đem lại cho bác sĩ bệnh viện những lợi ích trong việc chẩn đoán, tiên lượng bệnh, điều trị và theo dõi các bệnh lý võng mạc cũng như bệnh lý glôcôm. Chụp OCT sử dụng nguồn sáng của Laser diode có bước sóng 840nm, gần với bước sóng tia hồng ngoại, tạo ra độ phân giải khoảng 5µm - < 20 µm; cho hình ảnh với độ phân giải cao. Ngoài ra phương pháp kỹ thuật này còn cho hình ảnh 3D rất thật và chi tiết. Hình ảnh cắt ngang được đo bằng cách tính độ dày của các mô tại các vị trí bề mặt khác nhau.

Từ tháng 9/2014 đến tháng 8/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quốc Đạt cùng cộng sự Bệnh viện Mắt Đà Nẵng tiến hành nghiên cứu, mô tả và báo cáo đề tài “Nghiên cứu sự thay đổi độ dày võng mạc vùng hoàng điểm trong các bệnh võng mạc bằng chụp cắt lớp võng mạc OCT”; nghiên cứu nhằm mô tả những tổn thương nổi bậc của võng mạc vùng hoàng điểm trên hình ảnh OCT. Đối tượng nghiên cứu là tất cả những bệnh nhân có tổn thương vùng hoàng điểm trên lâm sàng được chỉ định chụp OCT võng mạc vùng hoàng điểm. Các bệnh lý hoàng điểm trong nghiên cứu gồm: Bệnh lý hắc võng mạc trung tâm thanh dịch; phù hoàng điểm dạng nang; thoái hóa hoàng điểm do tuổi, bệnh lý võng mạc đái tháo đường, tắc mạch võng mạc, tân mạch hắc mạc và các bệnh lý khác tùy theo chẩn đoán lâm sàng nghi ngờ có bệnh lý võng mạc. Tiêu chuẩn loại trừ gồm những bệnh nhân có đục thủy tinh thể, đục pha lê thể, xuất huyết pha lê thể lượng nhiều, sẹo giác mạc; những bệnh nhân có bệnh lý viêm kết mạc, viêm giác mạc, loét giác mạc; bệnh nhân bị rung giật nhãn cầu.

Tham gia nghiên cứu báo cáo có 541 mắt trên 506 bệnh nhân; trong đó có 35 bệnh nhân có bệnh lý võng mạc ở cả 2 mắt. Độ tuổi cao nhất với nam là 81, thấp nhất 17 tuổi; Độ tuổi trung bình là 47; Đối với nữ cao nhất là 83 tuổi, thấp nhất 18 tuổi. Độ tuổi trung bình của nữ là 56. Đối tượng nghiên cứu nam giới có 307 người; nữ giới có 199 người; Do bệnh lý đáy mắt trong nghiên cứu phần lớn là bệnh lý hắc võng mạc trung tâm thanh dịch, bệnh lý này gặp nhiều đối với nam giới hơn là nữ giới. Về nhóm độ tuổi; nhóm 30 – 50 tuổi chiếm nhiều nhất; tuổi trên 40 chiếm 67,5%, do các bệnh lý vùng hoàng điểm hay gặp ở độ tuổi này như bệnh lý hắc võng mạc trung tâm thanh dịch, tắc mạch võng mạc, có tỷ lệ cao trong nghiên cứu.

Về phân bố theo mắt tổn thương, tác giả nghiên cứu cho biết tổng số 506 bệnh nhân có 35 bệnh nhân bị bệnh lý ở cả 2 mắt chiếm tỷ lệ 6,9%. Đối với chẩn đoán bệnh dựa theo OCT, máy chụp OCT TOPCON 3D, 1000, trong số 541 mắt được thực hiện chụp OCT và phân tích kết quả trên phần mềm của máy, tác giả nghiên cứu báo cáo có được sơ bộ tình hình bệnh lý vùng hoàng điểm của bệnh nhân đến chụp OCT tại khoa Thăm dò chức năng và Cận lâm sàng của Bệnh viện; từ đó giúp định hướng cho vấn đề chẩn đoán, theo dõi và điều trị bệnh; qua đó triển khai thêm nhiều nghiên cứu sâu hơn.

Tác giả nghiên cứu có kết luận, những bệnh lý về võng mạc rất đa dạng, trong 12 tháng thu thập có 22 loại bệnh thường gặp như hắc võng mạc thanh dịch trung tâm; thoái hóa hoàng điểm tuổi già, bệnh võng mạc đái tháo đường, màng trước võng mạc, tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc, tắc nhánh tĩnh mạch trung tâm võng mạc, lỗ hoàng điểm, chấn thương, xuất huyết, bong biểu mô sắc tố, tân mạch hắc mạc, tắc động mạch trung tâm võng mạc; sẹo hoàng điểm, phù hoàng điểm dạng nang, thoái hóa tế bào nón, tắc nhánh động mạch võng mạc; bệnh lý bẩm sinh, bong võng mạc, thoái hóa biểu mô sắc tố, Myellin hóa, u mạch võng mạc, polyp hắc mạc. Nghiên cứu cho thấy hình ảnh cắt lớp OCT giúp quan sát được biến đổi hình ảnh đặc trưng theo từng dạng bệnh; Bề dày võng mạc tất cả đều gia tăng, nhóm bệnh cao nhất là các bệnh gây ứ dịch hoặc máu ở võng mạc như bệnh võng mạc thanh dịch trung tâm, tắc tĩnh mạch trung tâm hay tĩnh mạch nhánh, bệnh phù hoàng điểm dạng nang.

Tác giả nghiên cứu lưu ý, u mạch máu võng mạc bao giờ cũng cho hình ảnh võng mạc dày nhất; Hình ảnh và độ dày trung tâm võng mạc rất cần để theo dõi, đánh giá kết quả điều trị; các dữ liệu cần được lưu trữ lâu dài để chẩn đoán tái phát và so sánh các lần chụp với nhau; Bề dày võng mạc trung tâm gợi ý cho một chẩn đoán lâm sàng và thái độ điều trị dứt khoát hơn so với việc không thực hiện đo bề dày võng mạc trung tâm.         
Trần Hưng 
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 108

Số lượt truy cập: 9368433

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang