U warthin có tên gọi khác là u tuyến lympho (cystadenolymphoma). U warthin là một khối u lành tính của tuyến nước bọt, được đặc trưng mô học bởi sự xuất hiện các nhú với lớp tế bào hình trụ, ái toan, nhân bầu dục mang đặc tính bào tiết, trên nền chất đệm dày đặc bạch huyết. U thường xuất hiện ở vị trí mang tai.

U warthin thường là một khối, tiến triển chậm không có triệu chứng gì. Bệnh nhân thường không đau, một số trường hợp u chèn ép các mạch máu bên cạnh hoặc u bị bội nhiễm có thể gây đau. Ở một số trường hợp có thể gây liệt thần kinh mặt khi khối u bị viêm nhiễm hay xơ hóa dẫn đến chẩn đoán nhầm với khối u ác tính. Các chuyên gia răng hàm mặt cho biết, điều trị các khối u tuyến mang tai nói chung luôn gặp nhiều khó khăn vì ngoài vấn đề thẩm mỹ, tuyến nước bọt mang tai còn liên quan trực tiếp đến các thành phần quan trọng khác của cơ thể như cơ, mạch máu, đặc biệt là sự phức tạp của dây thần kinh số VII chi phối vận động các khối cơ vùng mặt. Các bác sĩ răng hàm mặt lưu ý việc chẩn đoán chính xác u warthin là rất quan trọng.
Từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Phạm Hoàng Tuấn cùng cộng sự Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội tiến hành nghiên cứu, báo cáođề tài “Đánh giá kết quả phẫu thuật u warthin tuyến nước bọt mang tai”. Đối tượng nghiên cứu là 20 bệnh nhân có chẩn đoán giải phẫu bệnh sau mổ là u warthin, không có bệnh cấp tính kèm theo; nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội.
Tác giả nghiên cứu báo cáo, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 59,45; nhóm 50-60 tuổi chiếm 50%; nhóm 60-70 tuổi chiếm 40%; độ tuổi trung niên hay gặp u này hơn những độ tuổi khác. U warthin là khối u có sự khác biệt về giới tính rõ ràng. Trong 20 đối tượng nghiên cứu có 18 người là nam giới, 2 người là nữ giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá với u warthin; 20 bệnh nhân có 16 người hút thuốc lá (80%). Trong 4 bệnh nhân không hút thuốc lá có 2 bệnh nhân nữ, 2 bệnh nhân nam. Đối với 2 trường hợp bệnh nhân đều có u ở hai bên, cả 2 người đều có tiền sử hút thuốc lá trên 30 năm. Tuy nhiên, hầu hết những khối u tuyến nước bọt đều xuất hiện một bên; đối với u warthin có khuynh hướng ở cả 2 bên nhiều hơn so với các khối u khác. Hút thuốc lá được cho là yếu tố nguy cơ phát triển khối u; liên quan đến số lượng thuốc hút, những bệnh nhân có u ở cả hai bên có tiền sử hút thuốc lá nặng hơn, thường trên 50 năm và có hút nhiều điếu thuốc lá trên ngày. So với u hỗn hợp, u warthin có liên quan với hút thuốc lá rõ ràng hơn.
Về kết quả điều trị, tác giả nghiên cứu báo cáo điều trị phẫu thuật u warthin đã được đề ra từ nhiều năm qua. Các bác sĩ phẫu thuật luôn phải cân nhắc giữa các biến chứng có thể xảy ra khi can thiệp quá nhiều và nguy cơ tái phát khi u cắt không đủ. Trên thế giới việc cắt u và thùy nông của tuyến mang tai vẫn là phương pháp được áp dụng rộng rãi. Tác giả nghiên cứu cho biết gần đây nhiều nghiên cứu về u warthin đã được thực hiện và có kết luận là u warthin là khối u lành tính, ít nguy cơ tái phát nếu bóc hết u và nguy cơ chuyển dạng ác tính thấp. Bên cạnh đó những bệnh nhân được giới hạn cho kết quả cũng khá tốt. Phương pháp mổ cắt nhân đơn thuần mặc dù cho kết quả tốt và mức độ xâm lấn thấp, tuy nhiên các bác sĩ cho rằng không phải là lựa chọn phổ biến của các phẫu thuật viên. Một nghiên cứu của tác giả nước ngoài trên 250 khối u tuyến mang tai được phẫu thuật, trong đó có 173 ca được chẩn đoán u lành tính trên sinh thiết, được cắt nhân đơn thuần; tỷ lệ tái phát của u là 6% sau 5 năm. Tác giả nghiên cứu này cho rằng cắt u giới hạn không nên áp dụng mà nên cắt tuyến.
BS Tuấn cho biết trong nghiên cứu có 35 trường hợp cắt nhân u; 45% cắt u và thùy nông, 20% cắt u và toàn bộ tuyến bảo tồn thần kinh mặt. Một số bệnh nhân chẩn đoán ban đầu là u warthin nhưng kết quả sinh thiết trả lời là u hỗn hợp; bệnh nhân được chuyển sang cắt u và thùy nông tuyến mang tai. BS Tuấn cho biết có 15/20 trường hợp mổ theo đường rạch Redon kinh điển bọc u tuyến mang tai; 4 bệnh nhân được rạch tại chỗ tại góc hàm chính là 4 bệnh nhân chỉ bóc nhân đơn thuần có khối u ở cực dưới tuyến. Trong quá trình bóc tách, tác giả nghiên cứu nhận xét u warthin là khối u có ranh giới rõ ràng, bóc tương đối dễ, u không lan vào các cấu trúc giải phẫu hay bám vào thần kinh mặt.
Tác giả nghiên cứu lưu ý dây thần kinh VII là mối quan tâm hàng đầu do có tỷ lệ lệch mặt và tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật, đây là tiêu chuẩn đánh giá kết quả của cuộc mổ. Trong các nhánh của thần kinh mặt, nhánh dưới hàm là nhánh bị ảnh hưởng nhiều nhất chiếm đến 94%. Các nghiên cứu ngoài nước cho thấy, 100% bệnh nhân cắt tuyến có tổn thương thần kinh mặt ở các mức độ khác nhau. Khi thực hiện test iod có 91% bệnh nhân cắt tuyến có phản ứng tiết mồ hôi vùng mang tai. Cắt nhân đơn thuần có ưu điểm do quy trình đơn giản, giảm thời gian điều trị, ít liên quan đến các nhánh thần kinh, không làm mất khối lượng tuyến, không làm mất chức năng của tuyến. Sau biến chứng liệt dây thần kinh thì hội chứng Frey được đề cập nhiều.
Trong nghiên cứu, tác giả báo cáo có 1 bệnh nhân có hội chứng Frey là bệnh nhân được cắt toàn bộ tuyến. Chẩn đoán hội chứng Frey dựa vào hỏi bệnh nhân có cảm thấy đổ mồ hôi lấm tấm vùng mang tai bên bệnh khi ăn no; nếu bệnh nhân không chắc chắn cho ngậm C. Trong nghiên cứu không có trường hợp nào có rò nước bọt qua vết mổ hay đọng lại thành túi, biến chứng này hiếm gặp./.
Trần Mai