[Đăng ngày: 20/11/2015]
Tại Hội nghị Khoa học Y dược miền Trung – Tây nguyên lần thứ X được tổ chức tại thành phố Buôn Mê Thuột tháng 10/2015, nhóm tác giả Nguyễn Hữu Huyên, Nguyễn Thị Thương và cộng sự Sở Y tế Đắk Lắk đã báo cáo đề tài “Thực trạng tử vong sơ sinh giai đoạn 2011-2014 ở tỉnh Đắk Lắk”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1-5/2015 tại 12 Bệnh viện gồm tuyến tỉnh 2 bệnh viện, tuyến huyện 9 bệnh viện và 01 bệnh viện tư. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong sơ sinh tại 12 bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2011-2014 là 4,6‰, năm 2014 chiếm tỷ lệ cao nhất 6,1‰ gần gấp đôi so với năm 2012 (3,8‰). Xét trong các bệnh viện, tỷ lệ tử vong sơ sinh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh chiếm tỷ lệ cao nhất 9,5‰, các bệnh viện huyện Lắk, Eakar, EaH’leo tỷ lệ tử vong sơ sinh khoảng 5‰, Bệnh viện đa khoa tư nhân tỷ lệ này là 1,4‰. Tác giả nghiên cứu cũng lý giải tỷ lệ tử vong sơ sinh cao ở bệnh viện tuyến tỉnh vì tại đây tập trung các sản phụ có nguy cơ cao, bệnh nhi nặng nhiều hơn so với bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện tư nhân; tuy nhiên so với toàn quốc tỷ lệ tử vong sơ sinh của tỉnh Đắk Lắk chỉ bằng 1/3, toàn quốc tỷ lệ này là 14‰.
Đối với so sánh giữa tỷ lệ tử vong sơ sinh sớm – tức tử vong trong vòng 7 ngày sau khi sinh và tử vong sơ sinh muộn – tử vong từ 7 đến 28 ngày sau sinh, giai đoạn 2011-2014 tỷ lệ tử vong sơ sinh sớm là 66,2% gấp đôi so với tỷ lệ tử vong sơ sinh muộn (33,8%). Còn đối với tỷ lệ tử vong sơ sinh trẻ nhẹ cân dưới 2500g và trẻ có cân nặng từ 2500g trở lên, thì tỷ lệ tử vong sơ sinh trẻ nhẹ cân là 67,4% cũng cao gấp 2 lần so với nhóm trẻ sơ sinh tử vong có cân nặng từ 2500g trở lên (32,6%). Phân tích nguyên nhân gây tử vong sơ sinh, tác giả nghiên cứu cho thấy nguyên nhân thường gặp ở trẻ sơ sinh thiếu tháng chiếm tỷ lệ 56%; nguyên nhân ngạt và nhiễm khuẩn sơ sinh cùng có tỷ lệ là 9,7%, nguyên nhân do tim bẩm sinh chiếm tỷ lệ 8,5%. Các nguyên nhân khác là 9,35%. Còn đối với tỷ lệ tử vong sơ sinh theo cách thức lấy thai mổ lấy thai hoặc đẻ forxep số tử vong sơ sinh tỷ lệ của nhóm đối tượng đẻ thường giai đoạn 2011-2014 chiếm 81,7%, cao hơn 4 lần so với nhóm đối tượng mổ lấy thai (16,1%), còn nhóm đẻ forcep chỉ chiếm 1,6%.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mỗi năm trên thế giới ước tính có khoảng 2,9 triệu trẻ sơ sinh tử vong. Gần 43% tổng số tử vong trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới là tử vong sơ sinh. Tử vong sơ sinh chủ yếu xảy ra ở các nước nghèo, nước đang phát triển. Thống kê năm 2011 của UNICEF, WHO năm 2011; Việt Nam có khoảng 18.000 trẻ sơ sinh tử vong hàng năm. Số liệu báo cáo của Bộ Y tế, tỷ lệ tử vong sơ sinh của Việt Nam ở thành thị là 9‰, còn ở vùng miền núi tỷ lệ cao hơn ở mức 17‰.
Theo tác giả nghiên cứu, trẻ sơ sinh thiếu tháng, trẻ sơ sinh ngạt là những yếu tố tương tác chính góp phần làm tăng tử vong sơ sinh. Nguyên nhân của hai yếu tố này khó xác định vì tùy thuộc nhiều nguyên nhân khác nhau như dinh dưỡng, di truyền, sức khỏe của bà mẹ, tình trạng bệnh tật của mẹ, tình trạng phát triển kinh tế xã hội.
Tác giả nghiên cứu kiến nghị cần đẩy mạnh công tác chăm sóc sản phụ lúc mang thai, phòng ngừa sinh ngạt lúc sinh là rất quan trọng để qua đó giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh. Các khoa sản cần được đào tạo nâng cao kỷ năng chăm sóc trước và ngay khi sản phụ sinh để giúp giảm tỷ lệ, giảm nguy cơ trẻ sinh ngạt. đồng thời các bệnh viện trang bị đầy đủ các trang thiết bị tại khoa hồi sức cấp cứu, hồi sức hô hấp, cấp cứu nhi qua đó giúp cải thiện tình trạng tử vong sơ sinh tại các bệnh viện.
Chúng ta biết rằng suy hô hấp cấp là sự rối loạn chức năng của phổi, gây ra thất bại trong quá trình trao đổi khí, dẫn đến thiếu oxy và tăng CO2 máu, do đó không có khả năng duy trì PaO2, PaCO2 và pH ở ngưỡng có thể chấp nhận được. Đây là triệu chứng rất hay gặp trong thời kỳ sơ sinh, nhất là trong những ngày đầu sau sinh. Trẻ sinh non dễ bị suy hô hấp hơn trẻ đủ tháng. Tử vong do suy hô hấp đứng hàng đầu của tử vong sơ sinh.
Trong quá trình hỏi bệnh, đối với trẻ sinh non phổi chưa trưởng thành, thiếu chất surfactant gây bệnh màng trong, hệ thần kinh chưa hoàn chỉnh gây cơn ngừng thở; sức đề kháng yếu dẫn đến dễ nhiễm trùng, viêm phổi; Đối với trẻ sinh ngạt, tuần hoàn phổi giảm ở trẻ sinh mổ chậm hấp thu dịch phế nang dẫn đến cơn thở nhanh thoáng qua, da tẩm nhuận, phân su gây hít phân su; Đối với mẹ bị bệnh tiểu đường làm ảnh hưởng tổng hợp sunfactant gây bệnh màng trong, trong trường hợp trẻ bị lạnh, bệnh lý khác gây tăng tiêu thụ oxy. Khám lâm sàng, đo và theo dõi độ bảo hòa oxy trong máu (SaO2), giúp chỉ định oxy liệu pháp và sử dụng được lưu lượng oxy tối ưu, là lưu lượng oxy thấp nhất để đạt trị số SaO2 bình thường 90-96%, suy hô hấp SaO2 dưới 90%.
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 75

Số lượt truy cập: 9370872

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang