
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Diễm Hương – Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Vũ Quốc Bình – Bệnh viện bệnh Nhiệt đới Khánh Hòa “Thực trạng cận thị học đường trên học sinh trường Trung học cơ sở Trần Quốc Toản, thành phố Nha Trang”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 02-11/2014, có 300 học sinh lớp sáu 11 tuổi, lớp bảy 12 tuổi, lớp tám 13 tuổi và lớp chín 14 tuổi tham gia. Tỷ lệ nam giới chiếm 51,3%, nữ giới 48,7%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 20% đối tượng nghiên cứu cho rằng đeo kính sẽ làm cận nặng lên; 97% biết nguyên nhân có thể gây nên cận thị như học tập trong điều kiện thiếu ánh sáng; đọc sách trong màn; đọc sách ở tư thế không tốt, nằm đọc; đi tàu xe đọc; có 64% dành thời gian rãnh rổi xem ti vi, sử dụng vi tính, chơi điện tử, đọc truyện.
Kết quả khảo sát bệnh cận thị học đường – mắc bệnh cận thị học đường chiếm tỷ lệ 53%, trong đó nữ giới chiếm 50,9%; trong các khối lớp có sự tăng dần về số học sinh bị cận thị học đường, khối 6 là 42%; khối bảy 48,7%; khối tám 59,2% và khối chín tăng lên 63,9%. Trong 81 học sinh khối lớp 6 có 34 em bị cận thị học đường, chiếm tỷ lệ 42%, nhưng trong 72 học sinh khối lớp 9 có 46 em cận thị học đường, chiếm tỷ lệ 63,9%. Trong số 159 em học sinh bị cận thị học đường, cận thị một mắt chiếm 5%, còn lại đều bị cận thị hai mắt.
Có 74,8% học sinh khi tự học ở nhà đã học trên bàn ghế rời; 19,5% học trên bàn ghế liền; 2,5% học trên giường và 3,1% học trên bàn ghế tự đóng. Có 30,8% học sinh dùng đèn tuýp; 5,3 học sinh dùng bóng tròn và 64,2% dùng đèn bàn.
Có 71,7% dành thời gian sử dụng vi tính từ 0 đến dưới 2 giờ/ngày; 21,4% học sinh sử dụng vi tính từ 2 giờ đến dưới 5 giờ/ngày và 6,9% sử dụng vi tính trên 5 giờ/ngày. Có 25,8% đối tượng nghiên cứu khi đọc, viết ở khoảng cách từ 15-20 cm bị cận thị học đường; còn nhóm học sinh đọc, viết ở khoảng cách từ 15-20 cm tỷ lệ cận thị học đường là 43,4%. Những học sinh có khoảng cách đọc, viết từ 25-30 cm có tỷ lệ cận thị học đường 16,9%. Những học sinh trong gia đình có người cận thị chiếm tỷ lệ 39,6% bị cận thị học đường; những học sinh trong gia đình không có người cận thị tỷ lệ này lên đến 68,1%.
Chúng ta biết rằng bệnh học đường có 2 bệnh thường gặp là cong vẹo cột sống và cận thị học đường. Theo nhiều điều tra gần đây tỷ lệ cận thị học đường đang gia tăng rất nhanh và là nguyên nhân chính gây giảm thị lực học sinh. Nghiên cứu của Viện khoa học Giáo dục Việt nam năm 2008, tỷ lệ mắc cận thị học đường trong các trường học là 26,14%. Năm 2012, báo cáo của Bệnh viện Mắt Trung ương cho thấy tỷ lệ mắc cận thị học đường chiếm khoảng 40-50% đối với học sinh thành phố và 15% đối với học sinh nông thôn. Cận thị không chỉ gây khó khăn cho việc học tập, làm việc mà khi bị cận thị nặng sẽ có nguy cơ mắc nhiều biến chứng như vẩn đục dịch kính, đục thủy tinh thể, glôcôm, thoái hóa hắc võng mạc hoặc bong võng mạc gây tình trạng mù lòa.
Cận thị là tật khúc xạ, người bệnh chỉ có thể thấy rõ vật ở gần do mắt có đường kính trước sau quá dài nên hình ảnh ở xa hội tụ phía trước võng mạc. Các bậc phụ huynh khi thấy con em trong học tập, sinh hoạt nhìn vật gì đều đưa vật đến gần mắt mới nhìn rõ, hay nheo mắt, nghiêng đầu để nhìn; có cảm giác nhức mắt, nhìn mờ, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế khám mắt, đo thị lực để được điều trị phù hợp./.
Nghi Anh