
Tại hội nghị khoa học Y Dược miền Trung – Tây Nguyên lần thứ X được tổ chức vào tháng 10/2015 tại TP Buôn Ma Thuột, tác giả nghiên cứu Nguyễn Thị Tuyết Vân – Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên cùng cộng sự đã báo cáo đề tài “Xác định tỷ lệ nhiễm HPV và khảo sát kiến thức thái độ thực hành đối với bệnh ung thư cổ tử cung ở phụ nữ tuổi sinh sản”.
Đề tài được thực hiện vào năm 2013, có 1072 đối tượng nghiên cứu là phụ nữ tuổi từ 15 – 49 đang sinh sống tại 184 xã phường tỉnh Đắk Lắk được lấy mẫu phết cổ tử cung xét nghiệm phát hiện nhiễm HPV bằng kỹ thuật Realtime PCR xác định các genotype của HPV bằng phương pháp PCR kết hợp hai phân tử.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV của đối tượng nghiên cứu là 11,8%. Kết quả xét nghiệm phân tích cho thấy các genotype HPV thường gặp gây ung thư cổ tử cung là 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56 và 58. Qua phỏng vấn điều tra kiến thức đối tượng nghiên cứu thì tỷ lệ nghe, biết về bệnh ung thư cổ tử cung là 83,1%; biết mức độ trầm trọng của bệnh là gần 69%; biết biểu hiện của bệnh là 36%; biết cần đi khám phụ khoa định kỳ phát hiện bệnh sớm là 58,7%.
Về kiến thức hiểu biết về virút HPV, có 33,8% đối tượng nghiên cứu đã từng nghe nói đến, 20% biết đường lây truyền HPV và 19,5% biết các yếu tố thuận lợi lây nhiễm HPV. Đối với kiến thức đối với vacxin phòng HPV có 47,3% có nghe, biết về vacxin phòng HPV; 14,8% biết lứa tuổi được chỉ định tiêm phòng HPV và 28% biết cơ sở y tế có vacxin tiêm phòng HPV. Kết quả cũng cho thấy có 83,9% đối tượng nghiên cứu chấp nhận việc tiêm phòng vacxin HPV.
Chúng ta biết rằng, virut được cho là nguy cơ cao gây ra bệnh ung thư cổ tử cung là Human papilloma virut (HPV). HPV có nhiều typ, phân bổ khác nhau ở các vùng trên thế giới, tuy nhiên nhiều nghiên cứu cho thấy typ HPV 16 chiếm đến 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung; HPV 18 gây ra khoảng 20% các trường hợp ung thư cổ tử cung; còn lại là các typ 31, 33, 35, 45, 52 và 58. Trong nghiên cứu của tác giả xác định typ HPV 16 chiếm tỷ lệ cao nhất (28,6%); typ HPV 18 chiếm tỷ lệ 22,1%; typ HPV 58 chiếm tỷ lệ 15,6% còn các typ khác có tỷ lệ thấp.
Ở Việt Nam ung thư phụ khoa thường gặp nhất là ung thư cổ tử cung, bệnh thường gặp ở phụ nữ trên 30 tuổi và thường gặp nhất ở lứa 40 – 50 tuổi. Đây là loại ung thư có thể phòng ngừa, phát hiện sớm và có thể điều trị tốt.
Ung thư cổ tử cung mọc từ các tế bào của cổ tử cung, phần dưới của tử cung nối với âm đạo. Hệ miễn dịch của phụ nữ chống lại tốt sự nhiễm HPV, tuy nhiên một số ít phụ nữ, virut sống sót nhiều năm làm tế bào cổ tử cung biến thành tế bào ung thư, chúng tích tụ thành khối bướu, xâm lấn mô lân cận rồi lan tràn trong cơ thể.
Triệu chứng ung thư cổ tử cung là rong huyết, xuất huyết âm đạo bất thường khi không phải là chu kỳ kinh, hoặc sau khi quan hệ tình dục thấy vài giọt máu; những trường hợp này người phụ nữ cần đi khám phụ khoa ngay. Ở giai đoạn muộn hơn, tại bộ phận sinh dục ngoài sẽ chảy ra chất sền sệt màu hồng, người bệnh gầy gò, rên rỉ vì đau nhức, đến gần đã nghe “mùi”. Bác sĩ sẽ định bệnh bằng xét nghiệm sinh thiết; chẩn đoán giai đoạn của ung thư để có phương thức điều trị phù hợp. Nếu được điều trị sớm, bệnh ở giai đoạn I tỷ lệ khỏi bệnh là 80 – 90% sau 5 năm.
Quế Lâm