
Bệnh phổi tắt nghẽn mãn tính (COPD) là bệnh lý mạn tính của đường hô hấp khá phổ biến hiện nay, được xem là một bệnh lý phức tạp và có thể gây tàn phế. Trong những thập niên gần đây, bệnh được quan tâm nhiều do tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh và tử vong cao và dự đoán đứng thứ 3 vào những năm 2020.
Bệnh nhân COPD có khuynh hướng dễ mắc các bệnh đi kèm do hậu quả của tình trạng viêm toàn thể hoặc do chia sẻ cùng yếu tố nguy cơ hút thuốc lá. Các bệnh đi kèm này có mối liên quan trực tiếp với độ nặng của bệnh và làm gia tăng bệnh suất, tử suất và việc sử dụng dịch vụ y tế của bệnh nhân COPD.
Từ tháng 1-10/2015, Bs Trần Hoàng Thị Ái Châu đã tiến hành đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của bệnh lý tim mạch phối hợp trên bệnh nhân COPD”.
Theo Bs Châu tiêu chuẩn chẩn đoán đợt cấp COPD theo Anthonisen 1987, người bệnh đã được chẩn đoán COPD đột nhiên xuất hiện một hoặc nhiều triệu chứng như: khó thở tăng, khạc đàm tăng, thay đổi màu sắc của đờm, có hoặc không có các triệu chứng toàn thân. Đối với tiêu chuẩn phân loại mức độ nặng đợt cấp COPD theo GOLD-2003:
1.Mức độ nhẹ gồm khó thở khi đi lại, đối thoại được, nhịp thở <20 lần/phút, mạch<100l/phphút, SaO2>95%, khí máu bình thường
2.Mức độ trung bình: khó thở khi nói, nói từng câu, kích thích nhẹ, nhịp thở 20-25l/phút, có co kéo nhẹ cơ hô hấp, mạch 100-120l/phút, SaO2 91 -95%, tăng nhẹ CO2 45-50mmHg, pH 7,3-7,38.
3.Mức độ nặng: khó thở khi nghỉ, nói từng từ, kích thích nhiều, thở 25-30l/phút có cơ kéo cơ hô hấp rõ, mạch>120l/phút, SpO2 85-90%, PaO2 40-60mmHg, PCO2 50-60 mmHg, pH 7,25-7,3.
4.Mức độ nguy kịch: thở ngáp hoặc khó thở dữ dội, không nói được, ngủ gà, hôn mê,>nhịp thở<30l/phút, nhịp chậm, rối loạn, hô hấp nghịch thường, SpO2<40mmHg, PaCO2> 60mmHg, pH<7,25.
Theo báo cáo kết quả có 86 đối tượng đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, trong đó nam giới 82 trường hợp (95,3%). Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 73,7 tuổi, nhỏ nhất là 49 và lớn nhất 92 tuổi. Tiền sử đối tượng nghiên cứu hút thuốc lá là 88,4%, thường ở những người bệnh có tiền sử hút thuốc lá từ 20 bao/năm trở lên có nguy cơ dẫn đến COPD.
Bs Châu đã có những phát hiện cho nghiên cứu đối với triệu chứng lâm sàng khó thở là triệu chứng chính chiếm tỷ lệ 100%. Ho - khạc đờm đục có tỷ lệ 80,2%, tức ngực 30,2%. Triệu chứng ở phổi hay gặp 93% rì rào phế nang giảm, 74,4% phổi có nan ngáy, ran rít. Triệu chứng khác tỷ lệ gan lớn 5,8%, phù chân 20,9%, tĩnh mạch cổ nổi 30,2%. Đối với rối loạn điện giải hay gặp là hạ kali máu 65,1%.
Về tỷ lệ bệnh lý tim mạch ở COPD: Trong nghiên cứu, có 64/86 bệnh nhân COPD có các bệnh lý tim mạch phối hợp chiếm tỷ lệ 74,4%. Trong các bệnh lý tim mạch phối hợp thì rối loạn nhịp tim gặp nhiều nhất có 56/86 bệnh nhân (chiếm 65,1%), tăng huyết áp chiếm 42,2%, bệnh mạch vành chiếm 30,2%, suy tim chiếm 29,1%. Bệnh van tim chiếm 24,4%.
Thuốc tim mạch sử dụng trên bệnh nhân có bệnh tim mạch phối hợp: các thuốc tim mạch được sử dụng theo thứ tự là ức chế can xi (24,4%), Nitrat (16,3%), lợi tiểu (14%), ức chế men chuyển (11,6%). Ức chế thụ thể được sử dụng với tỷ lệ thấp (3,5%). Không có bệnh nhân nào được sử dụng ức chế Beta.
Ảnh hưởng của bệnh lý tim mạch phối hợp trên bệnh nhân COPD: bệnh nhân COPD có bệnh lý tim mạch phối hợp làm tăng mức độ nặng của bệnh, tăng số lần nhập viện trong năm, tăng tỷ lệ bệnh nhân phải thở máy áp lực dương, tăng thời gian điều trị và có kết quả xấu hơn nhóm không có bệnh tim mạch phối hợp. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
Bs Trần Hoàng Thị Ái Châu đã đưa ra một số kiến nghị cụ thể như cần chú ý tầm soát các bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân COPD. Đề nghị triển khai xét nghiệm thăm dò chức năng hô hấp, xét nghiệm định lượng BNP để hỗ trợ chẩn đoán suy tim. Cần xây dựng một khuyến cáo và điều trị bệnh tim và COPD kết hợp, dựa trên các hướng dẫn quốc tế, phù hợp với thực tế của Việt Nam.
Hữu Cao