Ung thư đại trực tràng là một bệnh lý ác tính thường gặp ở đường tiêu hoá, ung thư đại trực tràng đứng hàng đầu. Bệnh ngày càng được phát hiện nhiều và phát hiện sớm hơn so với những năm trước đây. Theo thống kê của Hội Phòng chống ung thư Việt Nam, ung thư đại trực tràng ở Việt Nam đứng hàng thứ tư ở nam giới và hàng thứ hai ở nữ giới, với tỷ lệ 14,6/100.000 dân.
Năm 2014, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Tư Hoàng cùng cộng sự Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức nghiên cứu hồi cứu những bệnh nhân được phẫu thuật ung thư đại trực tràng ở Bệnh viện báo cáo đề tài “Đánh giá chẩn đoán và điều trị ung thư đại trực tràng được phẫu thuật”. Theo báo cáo của tác giả nghiên cứu, có 566 bệnh nhân được phẫu thuật lần đầu, 47 bệnh nhân phẫu thuật do tái phát. Có 321 bệnh nhân nam (56,7%); 245 bệnh nhân nữ (43,3%). Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 60,56; có 93 bệnh nhân được ghi nhận tuổi trên 75. Thời gian trung bình từ khi có triệu chứng đầu tiên đến khi vào viện là 1,86 tháng; dưới 3 tháng là 88,8%; 3-6 tháng là 6% và trên 6 tháng là 29 bệnh nhân. Bệnh nhân được chẩn đoán sớm là 3 ngày; lâu nhất là 14 tháng. Có 47 bệnh nhân tái phát với thời gian tái phát trung bình là 33,8 tháng.

BS.Hoàng phân tích, bệnh nhân ung thư đại trực tràng đến khám với các triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là đau bụng (44%); ỉa máu (47%); rối loạn phân (phân táo, phân nhầy mũi) 7,4%. Triệu chứng theo mô tả kinh điển của chẩn đoán ung thư đại trực tràng là ỉa máu, thay đổi thói quen đi đại tiện, mệt mỏi. Xét nghiệm cận lâm sàng soi đại tàng ống mềm có thể quan sát tổn thương u để xác định vị trí, dạng đại thể và kích thước u; đồng thời có thể sinh thiết chẩn đoán mô bệnh học. Nhiều nghiên cứu kết quả soi được toàn bộ khung đại tràng khoảng 90%; lý do không soi được hết là do đại tràng quá dài, xoắn vặn, u quá lớn gây nghẹt lòng ruột, bệnh lý dễ chảy máu. Độ nhạy của soi đại tràng phụ thuộc vào kinh nghiệm của người soi. Kết quả trong nghiên cứu, BS Hoàng cho biết có 419 bệnh nhân được nội soi đại tràng ống mềm (94,7%); tất cả đều phát hiện được u trong soi đại tràng. Dạng đại thể thường gặp là u sùi, u có kích thước hơn một nửa chu vi đại trực tràng. Có gần 50% đối tượng nghiên cứu được sinh thiết để xác định rõ bản chất tế bào u.
Đối với chụp CT- Scan ổ bụng cho phép xác định khối u, mức xâm lấn ra xung quanh xác định có di căn hạch, gan và các tạng khác trong ổ bụng không. Mục đích chính của CT- Scan ổ bụng nhằm phát hiện di căn hạch, gan và tạng trong ổ bụng; tuy nhiên khả năng phát hiện di căn hạch của CT-Scan thường kém. Một số trường hợp bệnh nhân việc chỉ định thực hiện chụp MRI là cần thiết để xác định có di căn gan hay không; đặc biệt MRI có độ nhạy cao hơn CT- Scan đối với những tổn thương nhỏ hơn 10mm.
Tác giả nghiên cứu cho biết, trong nghiên cứu có 96 bệnh nhân ở giai đoạn I (18,5%); 200 bệnh nhân ở giai đoạn 2 chiếm tỷ lệ 38,5%; 144 bệnh nhân ở giai đoạn 3 (27,7%); có 79 bệnh nhân ở giai đoạn 4 (15,3%). Phân loại giai đoạn bệnh tác giả dựa vào phân loại của tổ chức AJCC lần thứ 7 năm 2014. Về điều trị, BS. Lê Tư Hoàng cho biết, phẫu thuật nội soi được áp dụng và phát triển nhanh chóng, có 202 bệnh nhân được thực hiện phẫu thuật nội soi ở giai đoạn 1 đến giai đoạn 3. Có 14 bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật nội soi ở giai đoạn 1. Trong số những bệnh nhân này có 4 bệnh nhân vừa mổ cắt bỏ u nguyên phát vừa lấy bỏ nhân di căn gan, tử cung, buồng trứng, phúc mạc. Tác giả lưu ý để thực hiện được phẫu thuật nội soi cắt di căn gan đồng thời với cắt u nguyên phát đại trực tràng cần lựa chọn kỹ lưỡng sẽ giúp đạt kết quả tốt.
Phẫu thuật triệt căn được định nghĩa là phẫu thuật lấy được u, thắt tận gốc mạch nuôi, giải phẫu bệnh các diện cắt không còn có u và lấy hết được toàn bộ hạch xung quanh đại trực tràng lẫn hạch trung tâm; lấy được hết tổ chức di căn. Số hạch lấy được trung bình là 8,94; điều này cho thấy việc nạo vét hạch được chú trọng và thực hiện tốt. Trong nghiên cứu có 456 bệnh nhân được phẫu thuật triệt căn (87,8%); trong đó 206 bệnh nhân phẫu thuật nội soi; 250 bệnh nhân mổ hở.
Về kết quả điều trị, thời gian nằm viện sau mổ trung bình là 9,68 ngày; so sánh thời gian nằm viện giữa 2 nhóm phẫu thuật nội soi (n = 216) và phẫu thuật mổ hở của nhóm mổ lần đầu (n-303) cho thấy không có sự khác biệt (p < 0,05). Đa số bệnh nhân có kết quả tốt sau mổ với 506 trường hợp (98,4%); thời gian bệnh nhân có trung tiện sau mổ trung bình 3,56 ngày; có 02 trường hợp kết quả xấu phải mổ lại là một trường hợp tắc ruột sớm sau mổ; một trường hợp có chảy máu; sau điều trị tích cực cả hai trường hợp ra viện ổn định. Đối với những biến chứng nhiễm trùng vết mổ, rò vết mổ được điều trị nội không phải mổ lại.
BS.Hoàng có kết luận, dấu hiệu thường gặp của ung thư đại trực tràng là đau bụng và ỉa máu. Có đến 42,3% bệnh nhân đến bệnh viện muộn ở giai đoạn bệnh 3,4. Phương pháp soi đại tràng là biện pháp chẩn đoán hình ảnh tốt nhất phát hiện u với tỷ lệ 95%. Điều trị kết quả không có trường hợp nào tử vong.
Hồng Sơn