Gây tê tủy sống là phương pháp vô cảm được áp dụng rộng rãi cho các phẫu thuật vùng dưới rốn nói chung và phẫu thuật tiết niệu nói riêng.
Theo các chuyên gia gây mê, gây tê tủy sống có ưu điểm là kỹ thuật đơn giản, chất lượng vô cảm và giãn cơ tốt, hậu phẫu nhẹ nhàng, giảm chi phí điều trị. Hạn chế của gây tê tủy sống, theo các chuyên gia là tỷ lệ tụt huyết áp khá cao, nguyên nhân do phong bế thần kinh giao cảm gây giãn mạch. Phương pháp dự phòng và điều trị tụt huyết áp sau gây tê tủy sống là truyền dịch và dùng thuốc co mạch. Có nhiều biện pháp truyền dịch và nhiều loại dịch truyền. Các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, truyền dịch keo hoặc truyền dịch tinh thể đồng thời trong khi gây tê tủy sống có thể hạn chế được tỷ lệ tụt huyết áp.
Với mục tiêu so sánh hiệu quả việc duy trì huyết áp của ba biện pháp truyền dịch: NaCl 0,9% ngay trước gây tê tủy sống, Voluven 6% ngay trước gây tê tủy sống và NaCl 0,9% trong gây tê tủy sống để phẫu thuật tiết niệu; nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Đức Lam cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng báo cáo đề tài “Đánh giá hiệu quả dự phòng tụt huyết áp sau gây tê tủy sống trong phẫu thuật tiết niệu của một số biện pháp truyền dịch”.

Đối tượng nghiên cứu có 90 bệnh nhân được phẫu thuật tiết niệu tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 3-9/2010. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân xếp loại ASA I và ASA II, bệnh nhân không có chống chỉ định với gây tê tủy sống; tuổi từ 18-65, cân nặng > 40kg. Tiêu chuẩn không chọn đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân có bệnh tim mạch, dị ứng với marcain, fentanyl, cuộc mổ kéo dài trên 2 giờ, chảy máu nhiều, gây tê tủy sống thất bại, huyết áp tâm thu > 170 mmHg hoặc < 100 mmHg.
Cách thức tiến hành, sau khi giải thích rõ cho người bệnh, tiến hành truyền dịch theo 3 phương pháp, 3 nhóm khác nhau. Nhóm 1: truyền tĩnh mạch 20 ml/kg dung dịch NaCl 9‰ trước gây tê tủy sống 20-25 phút; nhóm 2: truyền tĩnh mạch 7ml/kg dung dịch Voluven 6% trước gây tê tủy sống 20-25 phút; nhóm 3: truyền tĩnh mạch 20ml/kg dung dịch NaCl 9‰ đồng thời với thời điểm gây tê tủy sống. Gây tê tủy sống ở vị trí L2-3. Thuốc tê sử dụng là Bupivacain phối hợp với Fentanyl 50mcg.
Sau gây tê tủy sống truyền dịch duy trì như nhau ở cả 3 nhóm bằng dung dịch NaCl 9% liều 100ml/giờ và đặt bệnh nhân nằm ngửa 5 phút; sau đó làm liệu pháp nâng chân 45 độ (nếu độ chênh lệch huyết áp tâm thu > 10mmHg là có thiếu thể tích tuần hoàn (test dương tính); nếu độ chênh lệch huyết áp tâm thu < 10mmHg là không thiếu thể tích tuần hoàn (test âm tính). Tụt huyết áp khi huyết áp tâm thu < 90 mmHg hoặc < 80% mức nền. Điều trị bằng tiêm tĩnh mạch Ephedrin 10mg/lần, tiêm nhắc lại khi huyết áp chưa nâng lên kèm truyền dịch NaCl 9% 500ml/10 phút. Nếu sau 5 lần tiêm Ephedrin mà vẫn tụt huyết áp thì sử dụng thêm adrenalin bơm tiêm điện.
Theo tác giả nghiên cứu, huyết áp động mạch trung bình của các bệnh nhân trước khi gây tê tủy sống không có trường hợp nào tụt huyết áp nhiều cần phải điều trị. Hiệu quả dự phòng tụt huyết áp sau gây tê tủy sống của 3 biện pháp truyền dịch kể trên còn được đánh giá bằng lượng Ephedrin dùng cho bệnh nhân trong mổ để nâng điều trị tụt huyết áp. Kết quả trong nghiên cứu cho thấy, lượng Ephedrin được sử dụng để nâng huyết áp ở nhóm 1 là 10,3mg; nhóm 2 là 0mg và nhóm 3 là 7,7mg. Tác giả lưu ý, các bệnh nhân nhóm 1 được truyền dung dịch tinh thể trước gây tê tủy sống lại phải dùng liều Ephedrin cao nhất, chứng tỏ nhóm này bị tụt huyết áp trong mổ nhiều nhất. Nhóm 2 truyền dung dịch keo trước khi gây tê tủy sống giúp ổn định huyết động và dự phòng tụt huyết áp, nên không phải dùng đến thuốc nâng huyết áp trong suốt cuộc mổ.
Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh, nhóm truyền dịch tinh thể cùng lúc với thời điểm gây tê tủy sống có tỷ lệ tụt huyết áp thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm truyền dịch tinh thể trước khi gây tê tủy sống 30 phút với p<0,05; 80% so với 60% tại thời điểm sau gây tê tủy sống 8 phút.
Tác giả nghiên cứu kết luận trong phẫ thuật tiết niệu, truyền Voluven 6% ngay trước gây tê và truyền NaCl 0,9% cùng lúc gây tê thì biện pháp truyền Voluven 6% trước gây tê có hiệu quả ổn định huyết động nhất, không có trường hợp nào tụt huyết áp và phải sử dụng Ephedrin. Phương pháp truyền NaCl 0,9% cùng lúc gây tê tốt hơn phương pháp truyền NaCl 0,9% ngay trước gây tê.
Lâm Quyên