Đái tháo đường là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh nội tiết. Theo các chuyên gia nội tiết, một vấn đề rất được quan tâm đối với bệnh nhân đái tháo đường là tình trạng mật độ xương và tỷ lệ loãng xương.
Loãng xương là hậu quả của sự mất cân bằng giữa quá trình tạo xương và hủy xương, trong đó quá trình hủy xương chiếm ưu thế hơn, hậu quả dẫn đến gãy xương.

Loãng xương không chỉ gây ra tình trạng đau đớn cho bệnh nhân mà còn mang gánh nặng kinh tế rất lớn cho gia đình, xã hội, nhất là khi có biến chứng gãy cổ xương đùi có thể tăng thêm tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân. Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra bệnh đái tháo đường có tác động tiêu cực lên chu chuyển xương, gây giảm mật độ xương. Những yếu tố nguy cơ gây loãng xương trên bệnh nhân đái tháo đường sẽ làm tăng mức độ và tỷ lệ loãng xương, đồng nghĩa tăng tỷ lệ biến chứng gãy xương, tàn phế và tử vong đối với bệnh nhân đái tháo đường. Vì vậy việc xác định các yếu tố nguy cơ gây loãng xương đối với bệnh nhân đái tháo đường rất cần thiết để điều trị dự phòng loãng xương sớm cho bệnh nhân.
Từ tháng 4/2014 đến tháng 11/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Lưu Thị Bình cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên và Bệnh viện Trường Đại học Y dược Thái Nguyên thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Yếu tố nguy cơ loãng xương trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2”. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường theo WHO năm 2000, bệnh nhân khám điều trị tại Bệnh viện Trường Đại học Y dược Thái Nguyên. Không mời những bệnh nhân có nguyên nhân loãng xương thứ phát, các bệnh nhân đái tháo đường có biến chứng cấp tính, suy gan, suy thận, những bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Tác giả nghiên cứu thực hiện nội dung nghiên cứu gồm 100 bệnh nhân đái tháo đường týp 2, khám lâm sàng, xét nghiệm, đo mật độ xương bằng phương pháp hấp thụ năng lượng tia X kép. Đo mật độ xương bằng máy MEDIX PR, tại 2 vị trí chỏm xương đùi (cổ xương đùi, mấu chuyển lớn, liên mấu chuyển, tam giác Ward) và cột sống thắt lưng L1, L2, L3, L4. Kết quả cuối cùng được tính bằng trung bình cộng của các chỉ số các vùng được đo ở cột sống thắt lưng và vị trí cổ xương đùi. Chẩn đoán loãng xương theo WHO 1994 dựa vào mật độ xương. Bình thường khi mật độ xương ≥ -1SD; khối lượng xương thấp từ -1SD đến -2,5SD; Loãng xương khi mật độ xương ≤ -2,5 SD. Loãng xương nặng khi mật độ xương ≤ -2,5SD và có ≥ 1 lần gãy xương.
Bác sĩ Lưu Thị Bình báo cáo, tỷ lệ bệnh nhân nam/nữ là ¼, nữ giới chiếm 79%, có 28 bệnh nhân < 60 tuổi, 72% bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu 66,6 chỉ số khối cơ thể BMI trung bình là 22,9.
Tác giả nghiên cứu phân tích, độ tuổi, chiều cao, cân nặng và chỉ số BMI là các yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến mật độ xương và tăng nguy cơ gãy xương đã được chỉ ra ở nhiều nghiên cứu trên thế giới, được đưa vào các mô hình tiên lượng mật độ xương và nguy cơ gãy xương. Đối tượng nghiên cứu có đặc điểm nổi bật là tỷ lệ bệnh nhân có thời gian mắc bệnh đái tháo đường trên và dưới 5 năm khá đều nhau, kiểm soát đường huyết chủ yếu bằng thuốc uống (58%), mức độ kiểm soát đường huyết kém chiếm tỷ lệ cao 85% (có mức HbA1C > 6,5%). Tác giả nhận xét việc kiểm soát đường huyết bằng thuốc uống cũng có thể nguyên nhân khiến các bệnh nhân có mức độ kiểm soát đường huyết ở mức kém. Đối với các yếu tố nguy cơ gây giảm mật độ xương như uống rượu, hút thuốc lá, lối sống tĩnh tại, tiền sử gãy xương trước đây, bố mẹ từng gãy cổ xương đùi, giảm chiều cao trên 3 cm, chiều cao thấp, thấp cân thì yếu tố lối sống tĩnh tại và giảm chiều cao trên 3cm là yếu tố chiếm tỷ lệ cao nhất.
Tác giả nghiên cứu nhận xét, khi so sánh mật độ xương trung bình ở cột sống thắt lưng và cổ xương đùi thì mật độ xương ở cổ xương đùi thấp hơn cột sống thắt lưng (p < 0,05). Tác giả giải thích ở cổ xương đùi có cấu trúc giải phẫu chỉ có một vòng mạch nuôi dưỡng, không có vòng nối nên khi bị tắc, giảm tưới máu từ mạch máu đó rất dễ dẫn đến tình trạng thiếu dưỡng và hoại tử. Đặc biệt, đối với bệnh nhân đái tháo đường có tình trạng tổn thương vi mạch, rối loạn chuyển hóa lipit đi kèm nên tình trạng thiếu dưỡng ở cổ xương đùi xảy ra nhiều hơn so với vị trị cột sống thắt lưng. Do vậy mật độ xương cổ xương đùi ở bệnh nhân đái tháo đường bị ảnh hưởng lớn hơn so với cột sống thắt lưng.
Tác giả nghiên cứu cho biết, cơ chế chính gây giảm mật độ xương ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 là giảm cấu trúc xương nhưng đồng thời các marker chu chuyển xương giảm thấp, giảm hấp thụ và tạo xương mới. Quá trình này liên quan thời gian mắc bệnh, càng dài thì chu chuyển xương với tốc độ thay xương chậm hơn sẽ khiến cho bệnh nhân ít bị mất xương hơn, thường yếu tố giảm cấu trúc xương ảnh hưởng nhiều hơn đối với giảm mật độ xương, điều này giải thích thời gian mắc bệnh không có mối liên quan đến mật độ xương. Tác giả nghiên cứu lưu ý những trường hợp có tiền sử gãy xương trước đó không phải do chấn thương có mối liên quan đến loãng xương ở vị trí cổ xương đùi, đó cũng là vị trí dễ có gãy xương trong tương lai. Đây là dự báo rất quan trọng và đơn giản cho chẩn đoán loãng xương và dự báo nguy cơ gãy xương cho người bệnh.
Văn Hanh