Rối loạn chức năng bài xuất nước tiểu là một biến chứng thần kinh phổ biến sau khi đột quỵ não. Theo các chuyên gia nội khoa, rối loạn chức năng tiểu tiện do nguyên nhân thần kinh ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống, tỉ lệ tử vong của bệnh nhân đột quỵ và cả người chăm sóc bệnh nhân đột quỵ.

Đột quỵ thể xuất huyết não chiếm khoảng 10 – 15% tất cả các trường hợp xuất huyết nội sọ, còn thiếu máu não cục bộ chiếm khoảng 80% số những trường hợp đột quỵ não. Thần kinh chi phối quá trình tiểu tiện gồm các trung tâm tiểu tiện ở tủy sống, cầu não, được bảo toàn và dưới sự kiểm soát của vỏ não.
Vì vậy các chuyên gia cho rằng, đột quỵ não sẽ gây rối loạn chức năng bàng quang, hiện tượng tiểu không tự chủ xảy ra do sự mất kiểm soát của trung tâm tiểu tiện cao nhất ở não. Để quản lý tốt bàng quang sau đột quỵ não, việc xác định đặc điểm rối loạn chức năng bài xuất nước tiểu là quan trọng; do vậy cần có những nghiên cứu phân tích đặc điểm niệu động học rối loạn chức năng bài xuất nước tiểu ở bệnh nhân đột quỵ não.
Từ tháng 7/2016 đến tháng 12/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Đỗ Đào Vũ cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, Đại học Y Hà Nội thực hiện nghiên cứu mô tả tiến cứu báo cáo đề tài “Đặc điểm niệu động học rối loạn chức năng giai đoạn bài xuất nước tiểu ở bệnh nhân đột quỵ não”. Đối tượng nghiên cứu là 15 bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ não từ 18 tuổi trở lên có rối loạn chức năng bài xuất nước tiểu. Tác giả nghiên cứu không chọn những bệnh nhân có bệnh lý thần kinh đi kèm như u não, chấn thương sọ não, xơ cứng rải rác, parkinson … hoặc những bệnh nhiễm khuẩn tiết niệu, đái tháo đường, phì đại lành tính tuyến tiền liệt, sỏi tiết niệu, dị dạng đường tiết niệu dưới. Tác giả nghiên cứu chọn 15 bệnh nhân đột quỵ não thỏa điều kiện nghiên cứu, đến khám và điều trị tại Đơn vị niệu động học Bệnh viện Bạch Mai. Máy thăm dò niệu động học do Laborie sản xuất tại Canada. Các chỉ số đánh giá gồm tuổi, thời gian mắc bệnh, vị trí tổn thương bên phải, trái, cả 2 bên, thùy nhộng, đặc điểm niệu động học (bàng quang) tăng hoạt, dung tích bàng quang tối đa, tiểu tồn lưu, Pdet Qmax áp lực cơ bàng quang tại thời điểm dòng tiểu đạt đỉnh; Qmax dòng niệu đỉnh; tình trạng cơ thắt bình thường, co thắt hay bất đồng vân.

Tác giả cho biết tiêu chí chẩn đoán: dung tích bàng quang tối đa 350ml; Pdet. Qmax < 40cm H20 ở nam giới và < 30cm H20 ở phụ nữ. Pdet. Qmax > 10cm H20; Qmax > 15ml/s, thể tích tiểu tồn lưu dưới 10% dung tích bàng quang. Bình thường co thắt đóng cổ bàng quang khi đổ đầy, mở khi bài xuất; bất đồng vận khi Pdet. Qmax cao, hoạt động điện thế EMG bề mặt gián đoạn hoặc gia tăng; cơ thắt không thư giãn xuất hiện khi hoạt động cơ thắt vân niệu đạo tăng trong giai đoạn đổ đầy, những vẫn ở mức cao liên tục trong giai đoạn bài xuất.
Bàng quang tăng hoạt, hoạt động quá mức được định nghĩa là sự co thắt tự phát của cơ bàng quang xảy ra pha đổ đầy khi thăm dò niệu động học với áp lực > 15 cm H20.
Bàng quang giảm hoạt khi Pdet. Qmax < 10cm H20; khi đi tiểu phải đè ép vùng bụng dưới và hiệu quả bài xuất nước tiểu dưới; 67% hoặc không thể đi tiểu.
BS Đỗ Đào Vũ phân tích, bàng quang thần kinh tăng hoạt được ghi nhận ở 8 bệnh nhân và bất đồng vận bàng quang – cơ thắt niệu đạo có 6 bệnh nhân; hầu hết đều bị đột quỵ thiếu máu cục bộ. Niệu động học phát hiện ở bệnh nhân đột quỵ thể khác nhau tùy thuộc vào thời gian tiến hành nghiên cứu và biến chứng của bệnh. Ở giai đoạn cấp tính của đột quỵ do xuất huyết não, 47% bệnh nhân bí tiểu trong vòng 72 giờ; chủ yếu do mất phản xạ co bóp cơ bàng quang, trong khi tất cả bệnh nhân thiếu máu não cục bộ đều có phản xạ. Cú sốc não như lời giải thích về sinh lý thần kinh cho sự mất phản xạ ban đầu, sau khi hết sốc não một số chuyển sang giai đoạn tăng trương lực cơ bàng quang theo thời gian. Tuy nhiên, cơ thắt niệu đạo thường có sự phối hợp với hoạt động của bàng quang trong quá trình bài xuất ở bệnh nhân đột quỵ não nếu tổn thương xảy ra ở phía trên trung tâm điều hòa hoạt động ở cầu não.
Trong nghiên cứu, có 5 bệnh nhân cơ thắt niệu đạo không mở giai đoạn bài xuất nên bệnh nhân bí tiểu trong 2 tháng sau đột quỵ, chỉ có 2 bệnh nhân có chức năng cơ thắt niệu đạo hoạt động bình thường; còn 6 bệnh nhân rối loạn bất đồng vận cơ thắt niệu đạo từ 2 tháng trở lên sau đột quỵ.
Tác giả lưu ý, chức năng đóng mở cơ thắt niệu đạo thay đổi theo thời gian bình phục của người bệnh. Việc phát hiện bất thường cơ thắt niệu đạo dựa trên ghi EMG bề mặt khi thăm dò niệu động học; tác giả nghiên cứu chọn ghi điện cơ bề mặt (EMG) và đo áp lực bàng quang truyền thống trong suốt quá trình thăm dò để đánh giá hoạt động của cơ thắt niệu đạo. Ngoài ra phân tích kết quả niệu động học giúp chẩn đoán, quản lý bàng quang thần kinh sau đột quỵ nói chung.
Trần Mai