Suy tĩnh mạch chi dưới là một trong những tình trạng bệnh lý phổ biến, ở Mỹ có khoảng 35% dân số mắc bệnh.

Các chuyên gia y tế ước tính, loét tĩnh mạch làm mất khoảng 2 triệu ngày làm việc mỗi năm, tốn kém ngân sách điều trị, chăm sóc. Thực tế bệnh suy tĩnh mạch chi dưới chưa thật sự được quan tâm đúng mức, có 65% bệnh nhân không biết mình bị bệnh tĩnh mạch cho đến khi khám bác sĩ. Biểu hiện lâm sàng của suy tĩnh mạch chi dưới đa dạng, bao gồm các triệu chứng tại chỗ thường gặp như nặng mỏi chân, đau, vọp bẻ, tê, phù chân, giãn tĩnh mạch có thể quan sát thấy ngoài da. Nếu bệnh không được điều trị giai đoạn sớm, điều trị đúng cách sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm, khó điều trị như rối loạn dinh dưỡng ở da, viêm tắc mạch. Có nhiều phương pháp điều trị bệnh, điều trị nội khoa đóng vai trò hết sức quan trọng. Thuốc có thể được dùng trong tất cả các giai đoạn của bệnh, có tác dụng làm giảm các triệu chứng cơ năng và tình trạng phù chân của người bệnh.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Trần Viết An cùng cộng sự Trường đại học Y Dược Cần Thơ thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị ở bệnh nhân suy tĩnh mạch chi dưới”. Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán suy tĩnh mạch chi dưới tại bệnh viện đa khoa Cần Thơ; bệnh nhân trên 18 tuổi; siêu âm Doppler màu mạch máu ghi nhận thời gian dòng trào ngược tĩnh mạch lớn hơn 0,5 giây.
BS Trần Viết An báo cáo có 32 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, nữ giới chiếm tỷ lệ 62,5%; nhiều hơn so với nam giới (37,5%); điều này tác giả giải thích do ảnh hưởng của nội tiết tố estrogen và progesteron, thai nghén lên thành mạch, thói quen ít vận động, đứng lâu và do khối lượng cơ thấp ảnh hưởng đến sức co cơ ép vào tĩnh mạch đẩy máu về tim.
Tỷ lệ suy tĩnh mạch tăng dần theo tuổi vì tuổi càng cao càng có nhiều yếu tố tác động như áp lực tĩnh mạch càng lớn, giảm trương lực cơ làm ứ trệ tĩnh mạch và sự suy yếu thành tĩnh mạch. Những người có nghề nghiệp ít hoạt động thể lực, đứng lâu, thể trạng thừa cân béo phì là những yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh.
BS An báo cáo triệu chứng cơ năng thường gặp nhất là tê, triệu chứng phù là triệu chứng thực thể hay gặp nhất. Có những nghiên cứu trong nước năm 2014 báo cáo đối tượng nghiên cứu có 98% có nặng mỏi chân; có 46,5% có triệu chứng phù chân. Trong nghiên cứu triệu chứng đau chân gặp 56,3%; nặng mỏi chân có 53%; vọp bẻ 40,6%; tê 62,5%; phù 37,5%; giãn mao mạch 25%; giãn tĩnh mạch lưới 34,4%; giãn thân tĩnh mạch 25%; biến đổi sắc tố da 3%.
Tác giả nghiên cứu báo cáo kết quả nghiên cứu theo phân loại CEAP, giai đoạn từ C0 đến C4; giai đoạn C3 chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,5%. Có nghiên cứu khác kết quả không tương đồng đối với giai đoạn theo phân loại CEAP, điều đó có thể do liên quan đến chủng tộc, di truyền, lối sống, nếu bệnh nhân ở vùng miền địa lý khác nhau tỷ lệ, tần suất mắc bệnh cũng khác nhau. Tác giả lưu ý đặc điểm là người dân ít quan tâm đến bệnh lý suy tĩnh mạch chi dưới, vì vậy bệnh không được phát hiện sớm cho đến khi có biểu hiện lâm sàng rõ rệt bệnh nhân mới đến bệnh viện khám và điều trị.
Báo cáo nêu trong nghiên cứu, qua siêu âm Doppler, suy van tĩnh mạch sâu chiếm nhiều nhất với tỷ lệ 96,9%; suy van tĩnh mạch nông có tỷ lệ 40,6%. Tác giả lưu ý bệnh nhân suy van tĩnh mạch sâu đi khám nhiều hơn vì những triệu chứng cơ năng diễn tiến nặng dần gây khó chịu, làm ảnh hưởng đến cuộc sống người bệnh. Bệnh nhân giãn tĩnh mạch nông thường được chỉ định nhập viện nên không khám ở phòng khám như suy van tĩnh mạch sâu.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, sử dụng siêu âm Doppler để phát hiện dòng trào ngược tĩnh mạch có ý nghĩa quan trọng vì đây là phương pháp chẩn đoán đơn giản, chính xác, có thể sử dụng rộng rãi và lặp lại để phát hiện sớm bệnh lý suy tĩnh mạch chi dưới.
BS An báo cáo, sau điều trị có triệu chứng cơ năng và tình trạng phù chân của bệnh nhân đều giảm, tỷ lệ này so với trước điều trị có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Các thuốc trợ tĩnh mạch làm giảm phù chân bằng các tác động như tăng trương lực tĩnh mạch dẫn đến giảm tình trạng ứ trệ trong hệ tĩnh mạch, tăng sức bền thành mạch, giảm tính thấm thành mạch, tăng dẫn lưu bạch huyết làm cải thiện việc dẫn lưu thoát dịch nên giảm phù. Sau điều trị bệnh nhân ở giai đoạn từ C0 – C2 tăng lên; giảm tỷ lệ bệnh nhân ở giai đoạn C3, C4. Chất lượng sống của bệnh nhân tính bằng điểm GIS dựa trên bảng câu hỏi CIVIQ tăng lên sau khi điều trị; từ 61,41 điểm trung bình trước điều trị, tăng lên được 72,34 điểm sau điều trị (p < 0,001). Hiệu quả điều trị theo ý kiến của bệnh nhân đạt mức tốt và rất tốt là 72%, mức chấp nhận được là 16%.
Tác giả nhận xét điều trị nội khoa thuốc trợ tĩnh mạch thật sự có hiệu quả trong điều trị suy tĩnh mạch chi dưới; giảm được các triệu chứng cơ năng, giảm tình trạng phù chân và góp phần làm cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân.
Hữu Lai