Theo các chuyên gia niệu học, són tiểu gắng sức là hiện tượng nước tiểu són qua niệu đạo ngoài ý muốn khi tăng áp lực trong ổ bụng do các hoạt động như ho, cười, hắt hơi.

Một nghiên cứu điều tra của Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội cho thấy tình trạng són tiểu của nữ nhân viên Bệnh viện là 25,4%. Són tiểu gắng sức không gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Hiện nay, việc chẩn đoán và điều trị són tiểu gắng sức đang được quan tâm, nhiều bệnh viện thành lập đơn vị điều trị nội khoa và can thiệp ngoại khoa.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Đỗ Đào Vũ cùng cộng sự Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Việt Đức cùng cộng sự thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang báo cáo đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và niệu động học ở phụ nữ són tiểu gắng sức năm 2010-2014 tại Bệnh viện Việt Đức”.
Tác giả nghiên cứu cho biết tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân nữ được chẩn đoán són tiểu gắng sức theo định nghĩa ICS – 2002, tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu là són tiểu do tràn đầy, són tiểu gấp đơn thuần, xơ cứng cổ bàng quang, niệu đạo do điều trị tia xạ, són tiểu do bệnh lý đường tiết niệu dưới do nguyên nhân thần kinh, són tiểu do rò bàng quang âm đạo, rò niệu quản – âm đạo, các bất thường giải phẫu. Có 36 bệnh nhân nữ són tiểu gắng sức thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn. Nhóm nghiên cứu sử dụng câu số 3,4 của bộ thang điểm UDI-6 (Urinary Distress Inventing 6) để đánh giá mức độ són tiểu gắng sức, dấu hiệu lâm sàng, gắng sức khi ho, di động niệu đạo quá mức, đặc điểm niệu động học (bàng quang tăng hoạt, bàng quang bình thường).
.jpg)
Quy trình thăm dò niệu động học được tác giả mô tả: bệnh nhân nằm ở tư thế sản khoa, đặt ống thông 8-french 2 – lumen qua niệu đạo vào bàng quang, cố định bằng băng y tế khi bàng quang được làm trống hoàn toàn. Phép đo áp lực bàng quang liên tục với tốc độ 30ml/phút bằng dung dịch muối vô trùng ở nhiệt độ phòng. Việc đổ đầy bàng quang kết thúc khi bệnh nhân có mong muốn đi tiểu và không thể trì hoãn được hoặc rỉ tiểu nhiều hoặc bệnh nhân báo bất kỳ khó chịu nào. Sau khi hoàn thành giai đoạn đổ đầy, bệnh nhân được yêu cầu đi tiểu.
BS Đỗ Đào Vũ báo cáo, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 51,9, thấp nhất 34, cao nhất 77 tuổi, nhóm 51-60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 50%. Số đối tượng nghiên cứu bị són tiểu mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất 66,6%, són tiểu mức độ nhẹ và nặng chiếm 16,7%. Tác giả nghiên cứu nhận xét, phụ nữ lớn tuổi có tỷ lệ mắc bệnh tăng hơn do các yếu tố về giải phẫu tầng sinh môn thay đổi sau sinh đẻ và sự giảm sút nội tiết tố sinh dục nữ gây ra.
Thời gian mắc bệnh trung bình của nhóm nghiên cứu là 55,6 tháng, ngắn nhất là 6 tháng và dài nhất là 120 tháng. Bệnh nhân có số lần sinh nhiều nhất là 4, không có trường hợp nào sinh con 1 lần, trung bình là 2,3 lần sinh. Bệnh nhân đã mãn kinh chiếm đến 64%, bệnh nhân thừa cân chiếm 64%. Chỉ số BMI đối tượng nghiên cứu trung bình là 22,9, người cao nhất có BMI 30,9. Số bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật sản khoa chiếm gần 30%, chủ yếu mổ đẻ và mổ u xơ tử cung. Đối tượng nghiên cứu có nguy cơ bị són tiểu gắng sức khá cao. Tác giả nghiên cứu cho rằng điều trị chứng bệnh này, song song các điều trị cơ bản, việc điều chỉnh lối sống, tập luyện của người bệnh là rất quan trọng.
Tác giả nghiên cứu lưu ý, phần lớn bệnh nhân chịu đựng tình trạng này rất lâu mới đi khám, do bệnh nhân suy nghĩ không có cách điều trị, do vậy cần tuyên truyền phổ biến bệnh này nhiều hơn. Các nghiệm pháp Boney, nghiệm pháp ho hay khám niệu đạo thường được áp dụng dễ dàng khi khám lâm sàng có ý nghĩa trong công tác chẩn đoán bệnh. Trong nghiên cứu các nghiệm pháp này đều dương tính. Đánh giá mức độ sớm tiểu gắng sức theo thang UDI 6, bệnh nhân són tiểu mức độ trung bình chiếm cao nhất với 66,6%.
Về đặc điểm niệu động học, bệnh nhân có són tiểu gắng sức, 31 bệnh nhân trong nghiên cứu có kết quả niệu động học bình thường, 5 bệnh nhân có bàng quang tăng hoạt phối hợp. Qua phân tích 5 bệnh nhân này, thấy ngoài són tiểu gắng sức có kèm theo bàng quang tăng hoạt, có 2 bệnh nhân có kèm theo són tiểu gấp (còn gọi là són tiểu hỗn hợp) hoặc nhầm lẫn són tiểu gắng sức với són tiểu gấp do bàng quang tăng hoạt. Tác giả lưu ý cần tiến hành thăm dò niệu động học giúp chẩn đoán chính xác và phân loại được chính xác loại són tiểu, từ đó bác sĩ có thể chọn phương pháp điều trị hiệu quả cho người bệnh.
Nguyên Khải