{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Sự khác biệt về giới khi sử dụng dịch vụ y tế
[Đăng ngày: 17/10/2016]
Năm 2014, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Đăng Vững cùng cộng sự Trường Đại học Y Hà Nội tiến hành nghiên cứu “Sự khác biệt giới về tình hình ốm đau, sử dụng dịch vụ y tế”. Nghiên cứu được thực hiện tại xã An Minh, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam với 230 đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi từ 60-97 tuổi.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người cao tuổi nữ mắc bệnh cấp tính ở nữ cao hơn nam (34,6% và 29,8%) và bệnh mạn tính tỷ lệ người cao tuổi nữ cũng cao hơn người cao tuổi nam (75% và 69,1%). Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Bệnh cơ- xương- khớp ở người cao tuổi nữ chiếm tỷ lệ cao hơn người cao tuổi nam. Bệnh đường tiết niệu ở người cao tuổi nam chiếm tỷ lệ cao hơn người cao tuổi nữ. Tỷ lệ người cao tuổi dùng bảo hiểm y tế khi đi khám chữa bệnh mạn tính ở nam cao hơn nữ và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Có sự khác biệt về loại hình dịch vụ y tế mà người cao tuổi lựa chọn khi đi khám chữa bệnh cấp tính và mạn tính, đặc biệt người cao tuổi nam chọn bệnh viện đa khoa huyện và bệnh viện đa khoa tỉnh chiếm tỷ lệ cao hơn người cao tuổi nữ. Việc sử dụng dịch vụ y tế ở cả hai giới của người cao tuổi đều liên quan đến tình trạng đi lại khó khăn trong tháng qua.
Theo tác giả nghiên cứu, hiện nay sự thay đổi về cấu trúc dân số tại Việt Nam dẫn tới sự biến đổi về mô hình bệnh tật, trong đó có mô hình bệnh tật của người cao tuổi, đặc biệt là người cao tuổi sống ở các vùng nông thôn Việt Nam. Theo đó cũng ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế của người cao tuổi cũng thay đổi đáng kể.
Các nghiên cứu về sự khác biệt giới ở người cao tuổi trong việc sử dụng dịch vụ y tế còn ít và mức độ nghiên cứu về chủ đề này chưa sâu, xét theo 3 cách tiếp cận: (1) tình hình sức khoẻ/ bệnh tật, (2) việc sử dụng dịch vụ y tế của người cao tuổi và (3) các yếu tố liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế của người cao tuổi, nhất là theo giới nam và nữ.
Theo định nghĩa của Liên Hiêp quốc: “Lồng ghép giới là một chiến lược nhằm đưa các vấn đề quan tâm, kinh nghiệm của nam giới và phụ nữ thành một phần không thể thiếu trong việc triển khai, giám sát và đánh giá chiến lược, chính sách, chương trình, dự án trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội; từ đó khiến nam giới và phụ nữ đều được hưởng lợi một cách bình đẳng. Mục tiêu cơ bản của việc lồng ghép giới là tiến tới bình đẳng giới”. Khi tiến hành lồng ghép giới trong truyền thông cần tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích công chúng
Trước khi truyền thông cần xác định công chúng chủ yếu ở đây thuộc đối tượng nào. Nhà truyền thông cần chỉ ra được đặc điểm về giới, tuổi tác, nghề nghiệp, học vấn, dân tộc tôn giáo của nhóm công chúng mà chúng ta muốn tác động.
Bước 2: Lựa chọn ngôn ngữ cho thông điệp
Khi lựa chọn các ngôn ngữ cho thông điệp phải luôn hướng đến sự phù hợp với đặc điểm công chúng. Cần đưa ra những thông điệp không thể hiện sự trung tính hay những thông tin gây nên định kiến giới. Ví dụ thay vì thông điệp:“Các bà mẹ khi đưa con đi tiêm chủng cần thực hiện…”; thì nên diễn đạt “Các bậc cha mẹ khi đưa con đi tiêm chủng cần thực hiện…”
Bước 3: Lựa chọn hình ảnh
Rất nhiều người làm truyền thông giáo dục sức khỏe có một nhận thức rằng phải tác động đến đối tượng chủ yếu được “giao phó” công việc chăm sóc sức khỏe trong gia đình là người phụ nữ như người mẹ, bà, chị gái… Vì vậy khi đưa bức ảnh minh họa, nhà truyền thông thường chọn đưa hình ảnh người phụ nữ với vai trò giới của họ. Ví dụ người mẹ đang rửa tay cho con, người mẹ ẵm con đến khám, người mẹ chăm sóc khi con ốm, người mẹ lau dọn nhà cửa….
Bước 4: Phương thức truyền thông
Khi tiến hành truyền thông nên chú ý chọn những kênh thông tin mà cả hai giới (nam và nữ) đều có thể dễ dàng tiếp cận và tham gia. Ví dụ khi đi chúng ta truyền thông về cách phòng tránh bệnh tay chân miệng cho trẻ em bằng hình thức nói chuyện trực tiếp thì không nên chỉ tập trung vào các bà mẹ mà nên mời tất cả mọi người tham dự
Bước 5: Kiểm tra đánh giá
Sau khi hoàn tất quá trình truyền thông chúng ta nên tiến hành thử nghiệm để đo lường phản hồi của công chúng cả nam và nữ để từ đó có sự hiệu chỉnh phù hợp. Bên cạnh đó người làm truyền thông nên lấy ý kiến đánh giá góp ý của những chuyên gia phân tích giới và các cán bộ cấp cơ sở về sản phẩm truyền thông, qua đó giúp nâng cao tính hữu dụng trong thực tiễn. Tóm lại quá trình hiện đại hóa đang khiến con người ngày càng bị lệ thuộc lớn hơn (cả nhận thức và hành vi) vào truyền thông. Điều đó đồng nghĩa với việc truyền thông đang ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong xã hội nhưng đi liền với nó là một trọng trách lớn lao là tạo ra một xã hội nhân văn và bình đẳng hơn.
Hữu Lai
Chi tiết
Các tin khác
16/10/2016:
Nghiên cứu chỉ số độ cứng động mạch ở bệnh nhân tăng huyết áp
16/10/2016:
Khảo sát nồng độ glucagon huyết tương ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2
13/10/2016:
Điều trị tế bào gốc ở bệnh nhân thoái hoá khớp
12/10/2016:
Phác đồ chẩn đoán DIC ở bệnh nhân Lơ xê mi cấp dòng tủy
12/10/2016:
Nghiên cứu yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
10/10/2016:
Chất lượng bệnh viện và sự hài lòng của người bệnh
11/09/2016:
Dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch sau mổ chỉnh hình chi dưới
11/09/2016:
Nghiên cứu về tràn dịch màng phổi ác tính
07/09/2016:
Nghiên cứu mô bệnh học ung thư đại trực tràng
01/09/2016:
Ung thư cổ tử cung ở phụ nữ nhiễm HIV
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
224
Số lượt truy cập:
9360991
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa