{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Nghiên cứu về tràn dịch màng phổi ác tính
[Đăng ngày: 11/09/2016]
Tràn dịch màng phổi ác tính là một tình trạng bệnh lý tương đối phổ biến vởi tỷ suất mắc là 660 bệnh nhân/ 1 triệu dân/năm.
Trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi ác tính, việc xác định gây tràn dịch màng phổi ác tính là điều hết sức quan trọng. Trước đây có nhiều phương pháp dùng để xác định nguồn gốc tràn dịch màng phổi ác tính như phân tích tế bào học dịch màng phổi, hóa mô tế bào và soi kính hiển vi. Tuy nhiên các phương pháp này thường có độ nhạy và độ đặc hiệu thường không cao.
Trong những năm gần đây, phương pháp hóa mô miễn dịch ra đời và nở rộ, trở thành một cuộc cách mạng trong ngành giải phẫu bệnh nói chung và lĩnh vực ung thư nói riêng giúp việc lý giải nguồn gốn của các loại ung thư trong đó có tràn dịch màng phổi ác tính trở nên rất rõ ràng, nhanh chóng. Hóa mô miễn dịch đã thật sự góp một phần rất lớn trong việc chẩn đoán, tiên lượng bệnh, điều trị và theo dõi hiệu quả điều trị trên bệnh nhân mắc các bệnh lý u ác tính.
Từ tháng 1/2012 đến 01/2014 nhóm tác giả nghiên cứu Lê Hồng Anh – Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch – thành phố Hồ Chí Minh và Quang Văn Trí, Bộ môn lao – Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, hóa mô miễn dịch của tràn dịch màng phổi ác tính”.
Theo tác giả nghiên cứu tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch tràn dịch màng phổi là một bệnh lý rất hay gặp, trong đó tràn dịch màng phổi ác tính chiếm một tỷ lệ khá lớn. Để chẩn đoán chính xác nguồn gốc tràn dịch màng phổi ác tính, từ năm 2008 cho đến nay bệnh viện Phạm Ngọc Thạch đã áp dụng phương pháp hóa mô miễn dịch và phương pháp này thực sự đã hỗ trợ rất nhiều bác sĩ trong việc truy tìm nguồn gốc của ung thư phổi hay ngoài phổi, đặc biệt tràn dịch màng phổi ác tính. Mặc dù được triển khai đã lâu, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng cũng như đặc điểm của hóa mô miễn dịch của các trường hợp tràn dịch màng phổi ác tính tại bệnh viện.
Kết quả nghiên cứu có 215 bệnh nhân được chọn vào mẫu nghiên cứu, được khám lâm sàng, ghi nhận lại các kết quả cận lâm sàng tổng quát bao gồm sinh hóa máu, X-quang phổi, siêu âm ngực, siêu âm tim và siêu âm bụng và phân tích dịch màng phổi (số lượng, màu sắc, sinh hóa, tế bào, vi khuẩn). Nếu bệnh nhân có số lượng dịch màng phổi <500 ml được xếp vào nhóm dịch màng phổi ít, nếu lượng dịch từ 500-1500ml thì xếp vào nhóm dịch màng phổi trung bình và >1500 ml thì được xếp vào nhóm dịch màng phổi nhiều. Để xác định nguồn gốc tràn dịch màng phổi ác tính, bệnh nhân ban đầu được sinh thiết mù màng phổi, nội soi phế quản, sinh thiết hạch ngoại vi và sinh thiết màng phổi với sự hướng dẫn của ST nếu cần. Trong trường hợp không thể xác định được nguồn gốc của tràn dịch màng phổi ác tính bằng sinh thiết mù bệnh nhân được cho tiến hành nội soi màng phổi và làm hóa mô miễn dịch.
Báo cáo của nghiên cứu cho thấy về giới tính 53% là nam giới; 47% là nữ giới. Độ tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 57,58; đối tượng thất nghiệp, về hưu, già yếu chiếm 35,3%; lao động chân tay chiếm 30,2%; nội trợ 13%, nông dân 11%, công nhân 4,2%. Không có trường hợp nào tiếp xúc với amiang. Về đặc điểm lâm sàng, 100% đối tượng nghiên cứu có hội chứng ba giảm, kế tiếp là đau ngực là triệu chứng được bệnh nhân khai báo nhiều nhất chiếm 91,16%. Triệu chứng phổ biến tiếp theo là triệu chứng ho (79,07%) và khó thở (54,88%). Ngoài ta có 26,61% bệnh nhân có ho khạc đàm.
Kết quả soi dịch màng phổi cho thấy có 106/215 (49,3%) mẫu dịch màng phổi có số lượng dịch nhiều, 69/215 (32,09%) số mẫu có số lượng dịch màng phổi vừa và 40/215 (18,6%) mẫu có số lượng dịch ít. Về màu sắc dịch, kết quả xét nghiệm cho thấy có 83/215 trường hợp có màu vàng chanh. Có 61/215 (28,37%) trường hợp dịch có màu hồng. Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân với màu sắc dịch màng phổi đỏ, vàng cam lần lượt là 20% và 11,16%.
Dịch màu nâu chỉ bắt gặp trong 4/215 trường hợp chiếm 1,86%.
Về đặc tính sinh hóa của dịch màng phổi nồng độ protein trung bình đo được trong dịch màng phổi của các đối tượng là 4,41±1,4 (g/dl). Nồng độ LDH trung bình của dịch màng phổi là 526,37± 432,94 (U/l). Nồng độ glucose trung bình và ADA trung bình của dịch màng phổi lần lượt là 5,01 ± 2,31 mmol/l và 19,02 ± 22,78 U/l.
Về số lượng tế bào trong dịch màng phổi, có 60,93% bệnh nhân có số lượng tế bào < 1000/mm3 và 37,07% có số lượng tế bào ≥1000/mm3. 100% bệnh nhân đều phát hiện có lympho bào trong dịch màng phổi. Trong số này có đến 89,3% có tỷ lệ lympho bào tử 75-100%. Không có trường hợp nào phát hiện bạch cầu đơn nhân trong dịch màng phổi. Có 124/215 trường hợp (57,67%) không phát hiện bạch cầu trung tính trong dịch màng phổi.
Các trường hợp còn lại phát hiện bạch cầu trung tính trong dịch màng phổi nhưng chủ yếu chỉ chiếm <50% số lượng tế bào (39,07%).
Trong tổng số 215 đối tượng tham gia nghiên cứu có 204 đối tượng (94,88%) được chỉ định sinh thiết mù màng phổi. Tỷ lệ phát hiện tràn dịch màng phổi ác tính của phương pháp sinh thiết mù lên đến 68,63% với carcinôm tuyến là loại tế bào ác tính phổ biến nhất, chiếm đến 54,9%. Có 201/215 (93,49%) các trường hợp có nội soi phế quản. Trong số này chỉ có 1/37 (2,7%) trường hợp phát hiện tế bào án tính loại carcinôm tế bào nhỏ. Có 3/215 (1,4%) trường hợp có sinh thiết hạch ngoại vi nhưng 3 trường hợp này khi xét nghiệm tế bào học không phát hiện tế bào ác tính. Có 73/215 bệnh nhân được chỉ định nội soi màng phổi (33,95%). Tỷ lệ phát hiện tế bào ác tính của nội soi màng phổi là 35,81%.
Từ kết quả mô hóa miễn dịch cho thấy có 79,53% trường hợp là ung thư phổi di căn màng phổi. 12,09% là ung thư màng phổi nguyên phát. Ngoài ra các ung thư tuyến vú di căn màng phổi, ung thư hạch ngoại vi và ung thư tuyến tiêu hóa, ung thư tuyến dưới hàm chỉ chiếm tỷ lệ thấp.
Theo Bs Lê Hồng Anh, đây là nghiên cứu đầu tiên khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hóa mô miễn dịch của các trường hợp tràn dịch màng phổi ác tính tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Tác giả nghiên cứu có kết luận phương pháp lấy mẫu xét nghiệm đạt hiệu quả nhất là phương pháp sinh thiết mù màng phổi với tổng cộng 136/215 trường hợp phát hiện tràn dịch màng phổi ác tính (68,65%).
Cần nhuộm hóa mô miễn dịch để xác định nguồn gốc nguyên phát các trường hợp tràn dịch màng phổi ác tính với một bộ kháng thể gồm các chất: calretinin, HBME1, vimentin, GLUT1, CK7/CH20, TTF1, Thyroglobulin, PSA, Mammoglobulin, LCA, CD20, CD30, Synaphotophysin. Cần kết hợp các kết quả hóa mô miễn dịch dự đoán nguồn gốc nguyên phát với nhau./.
Hữu Lai
Chi tiết
Các tin khác
07/09/2016:
Nghiên cứu mô bệnh học ung thư đại trực tràng
01/09/2016:
Ung thư cổ tử cung ở phụ nữ nhiễm HIV
31/08/2016:
Nghiên cứu đặc điểm u tế bào mầm ác tính
17/08/2016:
Nghiên cứu nhồi máu cơ tim cấp người trên 80 tuổi
16/08/2016:
Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh viêm thận bể thận cấp
12/08/2016:
Đặc điểm lâm sàng lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương
10/08/2016:
Thang điểm tiên lượng biến cố sớm sau can thiệp mạch vành
07/08/2016:
Những khuyến nghị để đánh giá bệnh nhân sau can thiệp mạch vành
02/08/2016:
Tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ
01/08/2016:
Giá trị tiên lượng thụ tinh trong ống nghiệm
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
271
Số lượt truy cập:
9361166
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa