[Đăng ngày: 12/10/2016]
Bệnh lý tim mạch, đặc biệt là bệnh động mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước phát triển, dù có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị và dự phòng.
“Viêm đóng một vai trò quan trọng trong bệnh động mạch vành tim vì những biến đổi do viêm phát triển trong vách động mạch”. Nhận xét trên đã làm tăng sự chú ý để khám phá sự liên hệ giữa bệnh động mạch vành tim và những dấu hiệu của viêm, gồm có C-reactive protein, Fibrinogen, TNF-α, các interleukins trong huyết thanh và nhiều dấu hiệu mới. Một nhận xét khác cho rằng trong nhồi máu cơ tim cấp tính có thể làm tăng tổng hợp các cytokine viêm, có thể làm nặng thêm các tổn thương cơ tim do tác động trực tiếp trên cơ tim hoặc phản ứng viêm dẫn đến huyết khối.
Nhóm tác giả nghiên cứu Vũ Tiến Thăng cùng cộng sự Trường Đại học Y Thái Nguyên, Bệnh viện Quân Y 103, Bệnh viện Hữu Nghị đã tiến hành đề tài “ Nghiên cứu yếu tố nguy cơ, nồng độ IL - 6 và IL -10 ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp”.
Đối tượng nghiên cứu là 71 bệnh nhân được chẩn đoán nhồi máu cơ tim theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế Thế giới (2000), được lấy vào nghiên cứu theo trình tự thời gian không phân biệt tuổi, giới. Bệnh nhân được điều trị tại khoa Tim mạch- Bệnh viện 103.
Nhóm đối chứng: 32 người hiện tại có tuổi trung bình tương ứng với nhóm bệnh nhân nghiên cứu. Không nhồi máu cơ tim.
Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân không có nhiễm trùng cấp và mạn tính phát hiện trên lâm sàng và cận lâm sàng, sốt do các nguyên nhân, đang điều trị thuốc suy giảm miễn dịch. Những bệnh nhân đã được chẩn đoán hay nghi ngờ một bệnh ung thư, suy thận, chấn thương hoặc tai biến mạch máu não dưới 3 tháng.
Nhóm bệnh nhân và nhóm chứng được khai thác bệnh sử, tiền sử, thăm khám lâm sàng tỉ mỉ, ghi chép toàn bộ vào mẫu phiếu nghiên cứu. Bệnh nhân được chụp động mạch vành và đánh giá tổn thương động mạch vành. Định lượng interleukine 6, interleukin 10 huyết thanh bằng phương pháp biochip sử dụng bộ kit Bio-plex của Bioarad. Kỹ thuật được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu Sinh- Y dược học Quân sự, Học viện Quân Y.
Theo phân tích của tác giả nghiên cứu, tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 66,4 tuổi. Có 53/71 bệnh nhân nhồi máu cơ tim trong nhóm nghiên cứu là nam giới, có giả thuyết cho rằng có sự bảo vệ của oestrogen vì khi phụ nữ ở tuổi mãn kinh thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng lên, lúc này cơ thể người phụ nữ đã giảm tiết oestrogen đáng kể. Ngoài ra cũng có thể nhận thấy có một nguy cơ gặp ở nam giới nhiều hơn là yếu tố hút thuốc lá (chiếm tới 52,11% tổng số bệnh nhân, trong đó 100% là nam giới).
Kết quả nghiên cứu về nồng độ IL-6, IL-10 ở nhóm bệnh nhân nhồi máu cơ tim cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng.
Nồng độ IL-6, IL-10 sau can thiệp, điều trị nội khoa tại thời điểm hết giai đoạn cấp cũng thấp hơn hẳn so với giai đoạn cấp.
IL-6 được phát hiện có liên quan đến sự phát triển của xơ vữa động mạch. IL-6 trung gian tổng hợp và bài tiết CRP, lần lượt gây sự tiết và gia tăng bám dính tế bào và các yếu tố mô. Tuy nhiên, trong điều kiện cơ bản, IL-6 trên một phạm vi rộng của các mô có ảnh hưởng đến sự phát triển của tế bào và sự khác biệt bao gồm tái cấu trúc thành mạch và tổn thương tại chỗ. Phân tử kết dính tế bào điều chỉnh độ bám dính của bạch cầu vào thành mạch trong khi các yếu tố mô thúc đẩy đông máu.
Tác giả nghiên cứu cũng cho biết các nghiên cứu gần đây lâm sàng cho thấy rằng mức độ huyết thanh của IL-10 là một dấu hiệu tiên đoán cho sự kiện mạch vành cấp và IL-10 trong huyết thanh không chỉ là một dấu hiệu của mảng bám không ổn định và khởi đầu của hội chứng mạch vành cấp tính, mà có thể liên quan đến một tiên lượng xấu sau bệnh cảnh động mạch vành cấp.
Nghiên cứu của Hideki về tái hẹp sau can thiệp mạch vành cho thấy tỷ lệ tái hẹp tăng lên đáng kể ở những bệnh nhân có mức IL-6, IL-10, CRP cao.
BS. Vũ Tiến Thăng có kết luận nghiên cứu là nồng độ IL-6, IL-10 huyết thanh ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim giai đoạn cấp là 38,39 + 1,30 pg/ml và 2,15 + 0,26 pg/ml cao hơn so với nhóm không nhồi máu cơ tim (3,43 + 0,84 pg/ml và 2,57 + 1,43 pg/mi) với p<0,01. Nồng độ IL-6, IL-10 sau can thiệp và điều trị nội khoa giảm thấp hơn so với giai đoạn cấp ), p<0,01.
Chúng ta biết rằng, động mạch vành là hệ thống mạch máu có chức năng nuôi dưỡng quả tim. Tuần hoàn động mạch vành là tuần hoàn dinh dưỡng tim. Mỗi quả tim của chúng ta có hai động mạch vành: động mạch vành phải và động mạch vành trái, các động mạch vành này xuất phát từ gốc động mạch chủ qua các trung gian là các xoang Valsalva và chạy trên bề mặt quả tim. Động mạch vành trái chạy một đoạn ngắn (1 – 3cm) sau đó chia thành 2 nhánh lớn là động mạch liên thất trước và động mach mũ, đoạn ngắn đó được gọi là thân chung động mạch vành. Như vậy, hệ thống động mạch vành có ba nhánh lớn làm nhiệm vụ nuôi dưỡng tim là: động mạch liên thất trước, động mach mũ và động mạch vành phải. Từ ba nhánh lớn này cho ra rất nhiều các nhánh động mạch nhỏ hơn như các nhánh vách, nhánh chéo, nhánh bờ… sẽ có nhiệm vụ mang máu giàu oxy từ động mạch chủ đi nuôi dưỡng tất cả các cấu trúc trong quả tim. Khi bị bệnh lý động mạch vành, dòng máu từ động mạch vành tới cơ tim giảm sút, khi đó cơ tim không nhận đủ oxy và xuất hiện triệu chứng cơn đau thắt ngực.
Hữu Cao
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 272

Số lượt truy cập: 9361168

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang