{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Nghiên cứu mô bệnh học ung thư đại trực tràng
[Đăng ngày: 07/09/2016]
Ung thư đại trực tràng là bệnh hay gặp trên thế giới. Tại Việt Nam ung thư đại trực tràng gặp hàng thứ tư ở nam giới, hàng thứ sáu ở nữ giới.
Năm 2010, báo cáo của tác giả Nguyễn Bá Đức và cộng sự kết quả thực hiện dự án quốc gia phòng chống ung thư giai đoạn 2008-2010 cho thấy tỷ lệ mắc mới ung thư đại trực tràng ở nam là 19,0/100.000 dân và nữ là 14,7/100.000 dân. Ở Mỹ, năm 2010 phát hiện 142.570 trường hợp mắc mới ung thư đại trực tràng và 51.370 trường hợp tử vong do ung thư đại trực tràng, đứng đầu trong các bệnh lý đường tiêu hóa. Việc phát hiện ung thư đại trực tràng thường muộn, thời gian sống thêm không có bệnh và toàn bộ thời gian sống thêm của bệnh nhân phụ thuộc vào giai đoạn bệnh và týp mô bệnh học.
Theo các chuyên gia ung thư, xác định được chiến lược điều trị và tiên lượng bệnh ung thư đại trực tràng, cần dựa vào đặc điểm mô bệnh học và sự biểu hiện hóa mô miễn dịch p53 và ki67.
Từ tháng 1/2009 đến tháng 5/2011, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Văn Hồng, Trần Minh Đạo – Bệnh viện 19.8 Bộ Công an cùng cộng sự tiến hành đề tài nghiên cứu “Đặc điểm mô bệnh học và sự biểu hiện của p53, Ki-67 trong ung thư đại trực tràng”.
Theo tác giả nghiên cứu, có 68 bệnh nhân ung thư đại trực tràng được phẫu thuật tại Bệnh viện 19.8 Bộ Công an và Bệnh viện K Hà Nội tham gia nghiên cứu. Bệnh phẩm được nhận xét về đặc điểm đại thể, cố định, cắt mỏng, chuyển, vùi, đúc, cắt mỏng nhuộm HE (Hematoxylin – Éoin) và PAS (Periodic Acide – Schif).
Đọc kết quả bằng kính hiển vi quang học, phân loại mô bệnh học theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới năm 2000.
Hóa mô miễn dịch (p53, Ki-67): Tiêu bản được nhuộm theo phương pháp Avidin- Biotin – Complex với quy trình nhuộm, các kít và hóa chất của hãng DakoCymation, Đan mạch.
Đọc kết quả bằng kính hiển vi quang học, đếm số lượng tế bào u trên 5 vi trường ở độ phóng đại 400 lần, chia lấy trung bình. Âm tính khi có <10% số tế bào u bắt màu; Dương tính khi có ≥10% số tế bào u bắt màu và chỉ làm 3 mức độ: yếu (+):≥10-30%, vừa (++):≥30-60%, mạnh (+++):≥60%.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Văn Hồng, có 56 trường hợp (65,1%) ung thư đại trực tràng ở thể sùi. Các thể loét, thâm nhiễm và thể hỗn hợp chiếm tỷ lệ dưới 13%. Đối với phân bố bệnh nhân theo týp mô bệnh học, ung thư biểu mô tuyến có 74 trường hợp chiếm tỷ lệ 86%; ung thư biểu mô tuyến nhầy chỉ có 11 ca; ung thư biểu mô tế bào nhiễm thấp nhất với 1 trường hợp. Đối với độ sâu xâm lấn, mức độ xâm lấn thanh mạc có 63 trường hợp chiếm tỷ lệ 73,2%; xâm lấn lớp cơ 22 trường hợp; xâm lấn di căn hạch 23 trường hợp xâm lấn vòi trứng có 1 trường hợp và di căn gan, lách 1 trường hợp.
Đối với sự biểu hiện của p53 dương tính có 50 trường hợp, chiếm tỷ lệ 58,1% trong đó dương tính mức độ mạnh 3 cộng có 27 trường hợp (31,4%). Đối với biểu hiện của Ki-67 dương tính có 81 trường hợp chiếm tỷ lệ 94%; dương tính mức độ mạnh 3 cộng là 46 trường hợp (53,5%).
Theo phân tích của Bs Hồng, tỷ lệ p53 dương tính ở ung thư biểu mô tuyến là 60,81%, ung thư biểu mô tuyến nhầy là 36,36%. Tỷ lệ Ki-67 dương tính ở ung thư biểu mô tuyến là 94,59%, ung thư biểu mô tuyến nhầy là 90,91%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Còn mối liên quan giữa sự biểu hiện của p53 và Ki67 với độ ác tính, p53 dương tính ở u có độ ác tính thấp là 62,12%, cao hơn u có độ ác tính cao (45%). Ki-67 dương tính ở u có độ ác tính thấp và cao là 93,94% và 95%. Tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Về mối liên quan giữa sự biểu hiện của p53 và Ki-67 với độ xâm lấn, tỷ lệ p53 và Ki 67 dương tính có xu hướng tăng theo độ sâu xâm lấn của u (p53: T2 50,0%, T3 60,32%; Ki-67: T2 90,91%, T3 95,24%). Nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Mối liên quan giữa sự biểu hiện p53 và Ki-67 với giai đoạn bệnh, p53 dương tính có xu hướng tăng theo giai đoạn bệnh: GĐ I: 40,91%, GĐ: II 62,5, GĐ III: 65,22%; GĐ IV: 100%, nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Sự biểu hiện của Ki-67 không khác nhau khi u ở các giai đoạn bệnh khác nhau.
Tác giả nghiên cứu có kết luận chủ yếu ung thư đại trực tràng ở thể sùi (65,12%).
Hầu hết ung thư đại trực tràng là ung thư biểu mô tuyến, chiếm tỷ lệ 86,05%, các týp khác chiếm tỷ lệ thấp.
U xâm lấn lớp thanh mạc chiếm tỷ lệ 73,26% và di căn hạch chiếm tỷ lệ 26,74%.
P53 dương tính là 58,14% và Ki-67 dương tính là 94,19%. P53 dương tính cao nhất ở thể loét (70%), thấp nhất là thể sùi (55,36%). Ki – 67 dương tính cao nhất ở thể thâm nhiễm (100%), thấp nhất ở thể loét (90%).
P53 dương tính ở ung thư biểu mô tuyến là 60,81%, ung thư biểu mô tuyến nhầy là 36,36%. Ki-67 dương tính ở ung thư biểu mô tuyến là 94,59%, ung thư biểu mô tuyến nhầy là 90,91%.
P53 dương tính ở u độ ác tính thấp là 63,08%, u độ ác tính cao là 42,86%.
Sự biểu hiện của p53 và Ki-67 không khác nhau khi u xâm lấn ở các độ sâu khác nhau và u ở giai đoạn bệnh khác nhau. Tuy nhiên, tỷ lệ p53 dương tính có xu hướng tăng theo độ sâu xâm lấn của u (T2: 50,0%, T3: 60,32%, T4: 100%) và giai đoạn bệnh (GDI: 40,91%, GDII: 62,5%, GDIII: 65,22%, và GDIV: 100%)>
Theo GsTs Nguyễn Chấn Hùng – Chủ tịch Hội ung thư Việt Nam, ung thư đại trực tràng giai đoạn sớm có thể rất im lìm, về sau mới có các triệu chứng như thay đổi thói quen của ruột: tiêu chảy, táo bón, tiêu chảy xen táo bón. Đau bụng ngấm ngầm, đầy hơi. Đi cầu ra máu hoặc phân dính máu. Phân nhỏ lại hoặc thay đổi độ dẻo, người bệnh mệt mỏi, uể oải, sụt cân, mất máu không lí do.
Có khoảng 70% ung thư nằm ở đại tràng, 30% nằm ở trực tràng. Tỷ lệ sống còn 5 năm tính chung cho các giai đoạn 65%; khu trú tại chỗ đại tràng và trực tràng 90%, tại vùng lan ra vùng lân cận 70%, di căn xa 10%.
Để phòng ngừa ung thư đại trực tràng cần có chế độ ăn nhiều rau trái tươi, ít béo và nhiều chất xơ, ít thịt đỏ. Từ năm 50 tuổi trở đi nam và nữ giới cần tầm soát bệnh bằng cách nội soi đại trực tràng. Những người có nguy cơ cao cần thực hiện nội soi sớm hơn. Về xếp giai đoạn ung thư, giai đoạn không ung thư rất sớm chỉ ở lớp trong của niêm mạc, giai đoạn 1: ung thư ở niêm mạc; giai đoạn 2: ung thư xuyên qua lớp cơ của ruột; giai đoạn 3: ung thư ăn lan đến hạch lympho; giai đoạn 4: ung thư lan tràn đến các cơ quan khác. Có khoảng 70% bệnh nhân khi đến bệnh viện có thể điều trị và 30% còn lại bệnh ở giai đoạn trễ, không thể phẫu thuật cắt bỏ hoặc đã có di căn xa. Phẫu thuật cắt đại trực tràng là liệu pháp tận gốc. Sau đó bệnh nhân được sử dụng các liệu pháp hóa trị, liệu pháp thuốc nhắm trúng đích để giúp giảm tái phát và di căn./.
Huy Hoàng
Chi tiết
Các tin khác
01/09/2016:
Ung thư cổ tử cung ở phụ nữ nhiễm HIV
31/08/2016:
Nghiên cứu đặc điểm u tế bào mầm ác tính
17/08/2016:
Nghiên cứu nhồi máu cơ tim cấp người trên 80 tuổi
16/08/2016:
Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh viêm thận bể thận cấp
12/08/2016:
Đặc điểm lâm sàng lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương
10/08/2016:
Thang điểm tiên lượng biến cố sớm sau can thiệp mạch vành
07/08/2016:
Những khuyến nghị để đánh giá bệnh nhân sau can thiệp mạch vành
02/08/2016:
Tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ
01/08/2016:
Giá trị tiên lượng thụ tinh trong ống nghiệm
31/07/2016:
Nghiên cứu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
272
Số lượt truy cập:
9361169
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa