{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Ung thư cổ tử cung ở phụ nữ nhiễm HIV
[Đăng ngày: 01/09/2016]
Từ tháng 10/2014 đến tháng 4/2015, tác giả nghiên cứu Đặng Ngọc Yến Dung thực hiện đề tài nghiên cứu “Tỷ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường ở phụ nữ nhiễm HIV khám phụ khoa tại bệnh viện Hùng Vương”
Kết quả nghiên cứu có 258 đối tượng nghiên cứu đủ điều kiện tham gia, tỉ lệ phết tế bào cổ tử cung bất thường là 7%, trong đó tỷ lệ phân loại tổn thương cổ tử cung bao gồm ASC-US: 0,4%, LSiL: 4,6%, HSiL: 1,2%, ung thư tế bào gai 0,8%. Tỉ lệ nhiễm HPV ở các trường hợp ASC-US và LSIL là 83,3%.
Đối tượng nghiên cứu có số lượng CD4<200μl có Pap bất thường nhiều gấp 8 lần so với đối tượng có số lượng CD4≥ 200/μl với p=0,002. Những đối tượng nghiên cứu đồng nhiễm viêm gan siêu vi B,C có tỷ lệ Pap bất thường cao hơn những phụ nữ nhiễm HIV không đồng nhiễm viêm gan siêu vi B,C với p=0,01. Tác giả nghiên cứu đã có kết luận phụ nữ nhiễm HIV có nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn người không nhiễm.
Theo tác giả nghiên cứu, mối liên quan giữa nhiễm HIV và tân sinh trong biểu mô cổ tử cung (CIN) được đề cập lần đầu tiên vào năm 1988 khi các nhà khoa học ghi nhận tần suất phụ nữ nhiễm HIV bị CIN cao gấp 5 lần phụ nữ không nhiễm HIV (10% so với 2%). Hai năm sau đó, cũng những nhà khoa học này đã mô tả một nhóm phụ nữ nhiễm HIV bị ung thư cổ tử cung xâm lấn. Những dữ liệu này rất đáng chú ý vì độ tuổi còn rất trẻ cũng như độ nặng của bệnh: bệnh nhân trẻ nhất là một bé gái 16 tuổi với ung thư cổ tử cung giai đoạn IIIB. Ung thư cổ tử cung tồn tại hoặc tái phát ở tất cả phụ nữ nhiễm HIV bất kể việc điều trị như thế nào, việc này chỉ thấy ở 37% phụ nữ không nhiễm HIV. Các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV bị ung thư cổ tử cung đều không sống sót, với thời gian sống trung bình 10 tháng.
Từ những dữ liệu nêu trên và một số nghiên cứu quan sát khác, năm 1993 Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) đã xác định tình trạng CIN vừa và nặng là một giai đoạn của nhiễm HIV có triệu chứng (khuyến cáo B), và ung thư cổ tử cung xâm lấn là dấu hiệu chỉ điểm của AIDS (khuyến cáo C). Ngày nay, một số trung tâm tại Hoa Kỳ, ung thư cổ tử cung là bệnh ác tính liên quan với nhiễm HIV thường gặp nhất.
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy có sự tân sinh trong biểu mô cổ tử cung ở phụ nữ nhiễm HIV cao gấp 4-5 lần so với phụ nữ không nhiễm HIV, nguy cơ ung thư cổ tử cung ở phụ nữ nhiễm HIV cao gấp 5-8 lần phụ nữ không nhiễm.
Về sinh học các nhà nghiên cứu rất chú ý đến týp của virus HPV, trong đó khoảng 30 týp gây nhiễm ở đường hậu môn- sinh dục. Gần 15 týp có liên quan với ung thư cổ tử cung và phần lớn ung thư cổ tử cung do 4 týp HPV 16,18,31 và 45 gây ra.
Ở phụ nữ nhiễm HIV, hệ miễn dịch cơ thể có nguy cơ cao bị tổn thương. Sự suy giảm miễn dịch là yếu tố nguy cơ quan trọng trong việc dẫn đến tổn thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung, có thể do hệ miễn dịch phản ứng kém với việc nhiễm HPV và do đó cơ thể không loại trừ được HPV dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của HPV.
Hiệp hội sản khoa Hoa Kỳ (ACOG) và Cơ quan Dự phòng bệnh tật Hoa Kỳ khuyến cáo những phụ nữ nhiễm HIV nên được phết tế bào cổ tử cung tầm soát ung thư cổ tử cung hai lần vào năm đầu phát hiện nhiễm HIV và sau đó mỗi năm một lần. Hai lần tầm soát đầu tiên là cần thiết vì CIN thường gặp ở những phụ nữ nhiễm HIV và tổn thương có thể phát triển rất nhanh chóng trên những phụ nữ này, bởi vì những tổn thương biểu mô mức độ cao (HSIL) có thể bị bỏ sót nếu tầm soát một lần.
Phân tích chi phí – hiệu quả của khuyến cáo này đã được nghiên cứu của Goldie SJ ủng hộ. Nghiên cứu này so sánh 6 chiến lược tầm soát ung thư cổ tử cung trên phụ nữ nhiễm HIV gồm: không tầm soát, làm Pap test hàng năm, làm Pap test hàng năm sau khi tầm soát 2 lần cách nhau 6 tháng âm tính, làm Pap mỗi 6 tháng, soi cổ tử cung hàng năm và soi cổ tử cung mỗi 6 tháng. Chiến lược làm Pap hàng năm sau 2 lần tầm soát cách nhau 6 tháng âm tính có hiệu quả với chi phí phù hợp so với chiến lược khác. Làm Pap mỗi 6 tháng cho thấy có hiệu quả nhưng chi phí cao hơn nhiều, cũng như chiến lược soi cổ tử cung chi phí quá cao nhưng không hiệu quả hơn.
Phụ nữ nhiễm HIV giai đoạn muộn (đặc biệt những trường hợp phải sử dụng thuốc kháng virus hoạt tính mạnh) có khuynh hướng nhiễm HPV dai dẳng và bị CIN nhiều hơn là những phụ nữ nhiễm HIV giai đoạn sớm. Tuy nhiên, chưa đủ chứng cứ để cho thấy tầm soát ung thư cổ tử cung với tần suất cao hơn ở những phụ nữ này sẽ làm thay đổi kết cục bệnh.
Ở phụ nữ không nhiễm HIV, các tổn thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung mức độ thấp thường thoái triển (>70%); do đó, những trường hợp này thường được theo dõi với khoảng cách mỗi 6-12 tháng.
Việc thoái triển hay tiến triển của tổn thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung mức độ thấp ở phụ nữ nhiễm HIV vẫn chưa rõ ràng và vẫn còn thiếu dữ liệu để xác định nhóm phụ nữ nhiễm nào có nguy cơ cao tiến triển nặng hơn nên ACOG vẫn khuyến cáo việc quản lý các tổn thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung mức độ thấp đã được xác định là CIN1 bằng sinh thiết, theo dõi qua soi cổ tử cung.
Đối với tổn thương ở mức độ cao, đốt hay cắt tổn thương đều là những phương pháp điều trị chấp nhận được ở bệnh nhân nhiễm HIV sau khi tổn thương đã được soi và sinh thiết cho kết quả CIN II/III hoặc CIN1 tồn tại dai dẳng.
Các kỹ thuật điều trị này gồm khoét chóp bằng dao thường hoặc vòng LEEP. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công trên phụ nữ nhiễm HIV thường thấp. CIN tồn tại và tái phát sau điều trị thường gặp ở phụ nữ nhiễm HIV hơn./.
Huy Hoàng
Chi tiết
Các tin khác
31/08/2016:
Nghiên cứu đặc điểm u tế bào mầm ác tính
17/08/2016:
Nghiên cứu nhồi máu cơ tim cấp người trên 80 tuổi
16/08/2016:
Đặc điểm vi khuẩn gây bệnh viêm thận bể thận cấp
12/08/2016:
Đặc điểm lâm sàng lymphôm nguyên phát hệ thần kinh trung ương
10/08/2016:
Thang điểm tiên lượng biến cố sớm sau can thiệp mạch vành
07/08/2016:
Những khuyến nghị để đánh giá bệnh nhân sau can thiệp mạch vành
02/08/2016:
Tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ
01/08/2016:
Giá trị tiên lượng thụ tinh trong ống nghiệm
31/07/2016:
Nghiên cứu bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở người cao tuổi
28/07/2016:
Đặc điểm hành vi phạm tội ở người sử dụng rượu
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
272
Số lượt truy cập:
9361169
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa