Tăng nhãn áp sau chấn thương là một loại Glôcôm thứ phát sau chấn thương. Tỷ lệ bệnh xuất hiện từ 5-10% ở những mắt bị chấn thương.
Theo các chuyên gia nhãn khoa, Glôcôm thứ phát có thể xuất hiện dưới nhiều hình thái lâm sàng khác nhau và xuất hiện ở những gia đình khác nhau. Bệnh có thể xuất hiện như Glôcôm góc đóng cấp hoặc mãn tính hoặc glôcôm lùi góc (giống Glôcôm góc mở). Với sự đa dạng và phức tạp, vì vậy công tác chẩn đoán Glôcôm thứ phát , điều trị bệnh có nhiều khó khăn.

Ở mắt chấn thương đụng dập, do áp lực từ ngoài đột ngột tác động vào nhãn cầu làm cho trục trước sau của nhãn cầu ngắn lại, đẩy tổ chức nội nhãn ra xung quanh gây giãn căng xích đạo của nhãn cầu trong một khoảng thời gian rất ngắn, chính tác động này tạo ra lực xé rách các tổ chức nội nhãn như rách bờ đồng tử, đứt chân mống mắt, rách vùng bè trabeculum, bong thể mi, đứt dây treo thể thủy tinh, lệch thể thủy tinh khỏi vị trí của nó, rách và bong võng mạc chu biên, co kéo dịch kính nền. Tất cả những tổn thương này làm rối loạn cấu trúc nhãn cầu gây ra nghẽn góc tiền phòng và nghẽn đồng tử, nhãn áp tăng nhanh chóng sau chấn thương. Trong trường hợp mắt có vết thương xuyên thủng nhãn cầu, vết thương làm thay đổi cấu trúc giải phẫu của nhãn cầu, gây xơ hóa và dính góc tiền phòng. Đồng thời do quá trình viêm mống mắt dai dẳng làm dính chân mống mắt vào vùng bè trabeculum và dính mống mắt vào mặt trước thể thủy tinh, hoặc mắt trước dịch kính, sẹo trắng giác mạc. Tất cả những tổn thương đó đều gây tăng nhãn áp.
Từ tháng 8/2015 đến tháng 7/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quốc Đạt cùng cộng sự Bệnh viện Mắt Đà Nẵng nghiên cứu báo cáo đề tài “Glôcôm thứ phát do chấn thương nhãn cầu”. Đối tượng nghiên cứu là 45 mắt trên 45 bệnh nhân bị chấn thương nhãn cầu đã được điều trị tại khoa chấn thương Bệnh viện Mắt Đà Nẵng; những bệnh nhân được phát hiện có tăng nhãn áp sau chấn thương. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân có tiền sử đã được phát hiện hoặc đã, đang điều trị Glôcôm góc mở hoặc góc đóng, nay bị chấn thương mắt; trẻ em đã được khám và điều trị Glôcôm bẩm sinh nay bị chấn thương và bệnh nhân có bệnh lý bẩm sinh hoặc mắc phải tại mắt không phải do chấn thương hoặc không có di chứng của chấn thương.
BS.Nguyễn Quốc Đạt cho biết, tất cả những bệnh nhân sau khi bị chấn thương đụng dập nhãn cầu đều được khám 2 mắt toàn diện và theo dõi nhãn áp hàng ngày trong thời gian nằm viện và sau khi xuất viện, theo dõi định kỳ sau 15 ngày, 1 tháng, 3 tháng, sau 6 tháng, hàng năm. Tất cả được soi góc tiền phòng sau 15 ngày bị chấn thương và được đo thị trường sau 1 tháng; đánh giá lại sau 6 tháng. Tình trạng đĩa thị được đánh giá ngay sau chấn thương và qua mỗi lần tái khám.
BS.Đạt báo cáo phân tích, bệnh nhân lứa tuổi học sinh chiếm tỷ lệ cao, 7-20 tuổi chiếm 31%; bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 3 tuổi, lớn nhất là 75 tuổi. Lao động phổ thông có 19 bệnh nhân; học sinh sinh viên có 16 bệnh nhân và lao động chuyên môn có 10 bệnh nhân. Tai nạn xảy ra trong sinh hoạt hàng ngày, trong chơi thể thao, trong các trò chơi nguy hiểm của các em học sinh nam.
Về phân loại chấn thương, chấn thương đụng dập gây tăng nhãn áp có 40 mắt (88,9%) cao hơn so với vết thương xuyên thủng nhãn cầu (11,1%). Tỷ lệ của nhãn áp theo hình thái lâm sàng; nhiều nhất là tăng nhãn áp liên quan đến lùi góc tiền phòng (37,8%); tăng nhãn áp liên quan đến sai lệch thể thủy tinh (33,3%); còn lại ít hơn là tăng nhãn áp sau vết thương xuyên nhãn cầu.
Đối với tình trạng nhãn áp, chỉ có 1 mắt có tăng nhãn áp nhẹ, còn lại số đo nhãn áp cao đáng kể. Nhãn áp từ 25 đến 40 mmHg chiếm đa số với 37 mắt, chiếm tỷ lệ 82%. Nhãn áp cao nhất là 60 mmHg và nhãn áp thấp nhất là 24 mmHg, nhãn áp trung bình là 32,85mmHg.
BS.Đạt cho biết nhiều nghiên cứu ngoài nước cho nhận xét, nguy cơ tăng nhãn áp sau vết thương xuyên thủng nhãn cầu thường có tỷ lệ thấp hơn so với chấn thương đụng dập nhãn cầu. Đối với hình thái lâm sàng, hình thái lùi góc tiền phòng và lệch thể thủy tinh có tỷ lệ tăng nhãn áp cao nhất. Góc tiền phòng lùi về phía sau làm nghẽn phần lớn đường thoát thủy dịch qua vùng bè và cả bờ đồng tử. Hình thái này khó điều trị vì màng bồ đào trước đã biến dạng và thường kèm theo sự bong hắc mạc. Hình thái lệch thể thủy tinh hầu như tất cả đều tăng nhãn áp. Giải thích điều này, BS.Đạt cho rằng từ cơ chế cơ học, phần dịch kính lắp đầy khoang thể thủy tinh làm bít kín hết đường thoát thủy dịch từ sau ra trước.
BS.Đạt có kết luận cho nghiên cứu, tăng nhãn áp sau chấn thương nhãn cầu là một trong những nguyên nhân gây mù một mắt chiếm tỷ lệ cao trong lứa tuổi học sinh và người đang độ tuổi lao động.
Vấn đề kiểm soát nhãn áp sau chấn thương khi có tăng nhãn áp, cần ưu tiên hàng đầu cho điều trị bằng thuốc và cuối cùng là phẫu thuật. Nhóm bệnh tăng nhãn áp do chấn thương đụng dập có lùi góc tiền phòng điều trị lâu dài giống như bệnh glaucoma góc mở nguyên phát. Phẫu thuật lỗ dò có áp mitomicin C có hiệu quả tốt nhất trong điều trị những trường hợp không kiểm soát được bằng thuốc. Nhóm bệnh tăng nhãn áp tạm thời có lùi góc tiền phòng cần được xếp vào nhóm có nguy cơ cao và theo dõi suốt đời. Nhóm bệnh tăng nhãn áp sau vết thương xuyên nhãn cầu nên được điều trị giống như bệnh glaucoma góc đóng thứ phát.
BS.Đạt có khuyến nghị, nhóm bệnh này cần được quan tâm theo dõi của thầy thuốc rất lâu dài và có hệ thống. Tuyên truyền rộng rãi trong học sinh và nhân dân về nguy cơ chấn thương mắt có thể xảy ra bất ngờ trong sinh hoạt hàng ngày, và mức độ nghiêm trọng của các biến chứng sau chấn thương đặc biệt là biến chứng tăng nhãn áp sau chấn thương, bệnh có thể xuất hiện sau 20-30 năm sau khi bị chấn thương vào mắt. Thuốc điều trị nhỏ tại mắt nên được bắt đầu bằng nhóm beta blocker hoặc nhóm alpha agonists. Nhóm thuốc CAI (Carbonate Andraza Inbitors) nhỏ tại mắt hoặc dùng toàn thân có tác dụng phối hợp.
Minh Tâm