
Suy thận mạn là hậu quả của nhiều bệnh mạn tính gây ra như đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh lý cầu thận. Suy thận mạn trở thành nguyên nhân gây tử vong cho hàng triệu bệnh nhân mỗi năm trên thế giới. Suy thận mạn ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, tác động đến sức khỏe tinh thần của người bệnh và do đó làm giảm chất lượng cuộc sống của họ, đặc biệt là gánh nặng về chi phí.
Tháng 9/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Tôn Thanh Trà cùng cộng sự phòng Quản lý chất lượng – Bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh thực hiện và báo cáo đề tài nghiên cứu chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy thận mạn đang điều trị bảo tồn và các yếu tố liên quan. Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn điều trị bảo tồn bằng thuốc ở độ tuổi trưởng thành, đang điều trị ngoại trú tại phòng khám nội thận của Bệnh viện Chợ Rẫy. Tiêu chí chọn mẫu là bệnh nhân có thời gian được chẩn đoán suy thận mạn trước đó ít nhất 6 tháng và bệnh nhân tự nguyện tham gia nghiên cứu. Bộ công cụ nghiên cứu là bộ câu hỏi SF36 chất lượng cuộc sống gồm 11 câu hỏi lớn, chứa 36 câu hỏi nhỏ, chia làm 8 phần về 2 lĩnh vực chính là sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần.
Tác giả Tôn Thanh Trà báo cáo có 319 đối tượng nghiên cứu tham gia nghiên cứu; tuổi trung bình là 49,5; tỷ lệ nam/nữ là 1/1. Đối tượng nghiên cứu ở các tỉnh, thành phố khác TP Hồ Chí Minh chiếm 67%; có 75% đối tượng nghiên cứu đã kết hôn. Về nghề nghiệp lao động chân tay chiếm đến 45%; Trình độ học vấn cấp 2 chiếm 43%; dân tộc Kinh đa số với 85% đối tượng nghiên cứu. Có 50% đối tượng nghiên cứu được chẩn đoán suy thận mạn đến điều trị cách thời điểm nghiên cứu từ 2 tháng đến 48 tháng. Người bị bệnh mới nhất được chẩn đoán cách thời điểm nghiên cứu là 15 ngày; người chẩn đoán bị bệnh lâu nhất cách thời điểm nghiên cứu là 120 tháng.
Tác giả nghiên cứu cho biết, tuổi càng cao thì điểm trung bình chất lượng cuộc sống càng giảm. Đối với nhóm bệnh nhân sống ở các tỉnh chiếm 67% gấp đôi đối tượng nghiên cứu tại TP Hồ Chí Minh, đây là nhóm bệnh nhân ít có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế và ít được kiểm tra sức khỏe định kỳ. Người bệnh thường đến Bệnh viện khi có những triệu chứng bệnh mới được khám và điều trị; do vậy thời điểm chẩn đoán, phát hiện bệnh trễ, bệnh chuyển sang giai đoạn muộn.
Các chỉ số xét nghiệm cho thấy đối tượng nghiên cứu suy thận ở mức từ trung bình đến nặng (độ II, III). Chỉ số BUN, creatinin trung bình cao hơn so với trị số người bình thường. Chỉ số Hemoglobin thấp hơn so với giá trị tham khảo. Nội dung sức khỏe liên quan hoạt động chức năng (PF) có điểm số trung bình cao nhất trong tổng số 8 nội dung của khảo sát về chất lượng cuộc sống: 75/100. Đối tượng nghiên cứu tuổi càng cao thì điểm trung bình chất lượng cuộc sống về sức khỏe tinh thần càng giảm, nhóm 40 – 60 tuổi bắt đầu xuất hiện các bệnh lý liên quan như đái tháo đường, bệnh tim mạch, viêm gan … các bệnh thực thể cùng với rối loạn tâm lý đồng hành cùng đối tượng nghiên cứu. Có những đối tượng nghiên cứu nghỉ hưu, chịu áp lực căng thẳng khi phải thích nghi với hoàn cảnh sống mới; nhiều biến đổi tâm lý thay đổi nếp sinh hoạt, sự hạn chế về khả năng tài chính.
Tác giả nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường trợ giúp của người thân, của nhân viên y tế đến người suy thận mạn. Người dân cần được nghe các thông tin tuyên truyền để biết và đi khám sức khỏe định kỳ, phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời tránh diễn tiến sang giai đoạn mạn tính nặng hơn, giảm được gánh nặng cho người bệnh và gia đình.
Chúng ta biết rằng, bệnh thận mạn được chẩn đoán dựa vào bằng chứng của tổn thương về cấu trúc và chức năng thận. Theo Hội Thận học Hoa Kỳ 2002; các tiêu chuẩn tồn tại và kéo dài từ 3 tháng trở lên gồm (1) Tổn thương mô thận phát hiện qua sinh thiết thận; (2) Bằng chứng của tổn thương thận qua xét nghiệm máu hoặc nước tiểu hoặc xét nghiệm hình ảnh kèm hoặc không kèm theo giảm độ lọc cầu thận; (3) Độ lọc cầu thận (GFR) giảm dưới 60ml/phút/1,73m2 da kéo dài > 3 tháng, kèm hoặc không kèm bằng chứng của tổn thương thận.
Đối với bệnh nhân ghép thận cũng được xem là bệnh nhân có bệnh thận mạn. Việc chẩn đoán giai đoạn bệnh thận mạn được tiến hành khi chức năng thận ổn định, loại bỏ các yếu tố làm nặng thêm tình trạng suy thận. Việc phân loại giai đoạn bệnh thận mạn giúp bác sĩ đánh giá, theo dõi diễn tiến của bệnh; thông báo cho người bệnh về giai đoạn từ đó ra chiến lược điều trị phù hợp theo giai đoạn. Theo Hội Thận học Hoa Kỳ, bệnh thận mạn được phân thành 5 giai đoạn dựa vào độ lọc cầu thận hoặc độ thanh lọc creatinin tính bằng công thức Cockcroft Gault.
Suy thận mạn (chronic renal failute) là tình trạng suy giảm chức năng thận mạn tính không hồi phục theo thời gian nhiều tháng, nhiều năm, do tổn thương không hồi phục về số lượng và chức năng của các nephron. Suy thận mạn tương ứng với bệnh thận mạn giai đoạn 3 – 5. Suy thận giai đoạn cuối là giai đoạn nặng nhất của suy thận mạn, biểu hiện lâm sàng do tình trạng tích tụ các độc chất, nước và điện giải bình thường thải qua thận gây nên hội chứng urê huyết cao. Tình trạng này sẽ gây tử vong trừ khi bệnh nhân được áp dụng các biện pháp điều trị thay thế thận như thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc, ghép thận. Suy thận mạn giai đoạn cuối tương ứng bệnh thận mạn giai đoạn 5. Theo chuyên gia Thận học Mỹ, mỗi bệnh nhân suy thận mạn vào giai đoạn cuối điều trị thay thế thận, tương ứng với ngoài cộng đồng có khoảng 100 người đang bị bệnh thận ở những giai đoạn khác nhau.
Huy Hoàng