[Đăng ngày: 13/09/2017]
Nang ống mật chủ là bệnh bất thường bẩm sinh về giải phẫu của đường mật trong và ngoài gan. Bệnh gặp nhiều ở các nước châu Á trong đó có ở Việt Nam; tỷ lệ bệnh ở nữ giới gấp 3 lần so với nam giới.
Chẩn đoán bệnh nang ống mật chủ dựa vào triệu chứng lâm sàng, chụp đường mật qua da, chụp mật- tụy ngược dòng qua nội soi, siêu âm; chụp cộng hưởng từ mật-tụy. Phương pháp điều trị là phẫu thuật cắt nang và tái lập lưu thông mật ruột qua nội soi. Bệnh ít gây tử vong nhưng có thể xảy ra tai biến, biến chứng sớm sau mổ như chảy máu, rò mật sau mổ, xuất huyết tiêu hóa, viêm tụy cấp và rò tụy, tắc ruột…

Theo bác sĩ chuyên khoa gan mật, kết quả điều trị bệnh nang ống mật chủ phụ thuộc chất lượng phẫu thuật viên, công tác chăm sóc theo dõi hậu phẫu phát hiện sớm hạn chế các biến chứng có vai trò rất quan trọng. Công tác theo dõi, chăm sóc hậu phẫu đòi hỏi cán bộ y tế cẩn thận, tỉ mỉ, chặt chẽ kết hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng, hoạch định được chiến lược điều trị tốt nhất cho người bệnh, bên cạnh đó là chế độ nuôi dưỡng cho bệnh nhân thật khoa học và hợp lý nhất.

Nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Viết Quang Hiển cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả điều trị sau mổ bệnh nhân nang ống mật chủ tại Khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Trung ương Huế”. Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán xác định là nang ống mật chủ có chỉ định phẫu thuật bằng phương pháp cắt nang và tái lấp lưu thông mật- ruột kiểu Roux-en-Y qua nội soi, sau đó được theo dõi chăm sóc hậu phẫu tại Khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Trung ương Huế.

Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích có 25 đối tượng nghiên cứu phù hợp tham gia nghiên cứu; nhóm từ 1 đến 5 tuổi có 12 bệnh nhân; tuổi bệnh nhân nhỏ nhất là 1,5 tháng tuổi; người lớn nhất là 60 tuổi. Nữ giới chiếm 68% đối tượng nghiên cứu. Về phân loại nang ống mật chủ, túyp IA có 13/25 trường hợp; túyp IC có 9/25 trường hợp; có 03 trường hợp không phân loại được túyp. Tất cả bệnh nhân được phẫu thuật theo phương pháp cắt nang và nối mật- ruột kiểu Roux-en-Y qua nội soi.

Về chăm sóc hậu phẫu, BS.Quang Hiển cho biết, sau mổ không có bệnh nhân nào phải thở máy, có 16% bệnh nhân cần truyền máu sau mổ. Đa số bệnh nhân cần hỗ trợ thuốc giảm đau 2 ngày; đối với phẫu thuật cắt nang nội soi và tái lập lưu thông đường tiêu hóa nối mật- ruột, thời gian nuôi dưỡng tĩnh mạch trung bình 3 ngày. Với sự theo dõi sát trên lâm sàng, đánh giá số ngày thở oxy, thở máy hay không thở máy; sự thay đổi của công thức máu, các xét nghiệm sinh hóa như bilirubin máu, men gan, men tụy nên không ghi nhận các biến chứng sớm nào xảy ra trên các đối tượng nghiên cứu.

Theo tác giả nghiên cứu, để không có biến chứng sớm sau mổ trong thời gian bệnh nhân nằm ở hậu phẫu, cần có nhiều yếu tố; trong đó quan trọng nhất là sự bám sát lâm sàng của bệnh nhân; bác sĩ phối hợp nhịp nhàng với điều dưỡng chăm sóc; yếu tố trình độ phẫu thuật viên thực hiện ca mổ, bác sĩ phụ mổ trong quá trình phẫu thuật đánh giá đúng tính chất phức tạp của bệnh đều là những yếu tố rất quan trọng. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 72% đối tượng nghiên cứu rút nội khí quản tại phòng mổ; 28% đối tượng nghiên cứu lưu nội khí quản sau mổ và rút ra trước 24 giờ. Có 04 bệnh nhân được truyền máu sau mổ; có 40% đối tượng nghiên cứu cần được nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch với thời gian trên 3 ngày; có 12 bệnh nhân nuôi dưỡng bằng đường tĩnh mạch từ 2-3 ngày.

Về sự thay đổi bạch cầu; trước mổ có 56% bệnh nhân có số lượng bạch cầu trên 10x109/L; sau mổ tỷ lệ này giảm còn 24%. Trước mổ có 16% bệnh nhân có nồng độ bilirubin > 40 mmol/l; sau mổ giảm còn 8%. Trước mổ có 80% đối tượng nghiên cứu có men gan bình thường hoặc tăng dưới 2 lần giới hạn trên bình thường; sau mổ tăng lên 88%. Sau mổ, đối tượng nghiên cứu có men amylase và lipase giảm rõ rệt; trước mổ có 92% đối tượng nghiên cứu có tỷ prothrombin > 80%; sau mổ có 100% bệnh nhân có tỷ prothrombin > 80%. Bệnh nhân nằm điều trị chăm sóc sau hậu phẫu từ 2 ngày chiếm 40%; không có đối tượng nghiên cứu nào tử vong và không có đối tượng nghiên cứu nào xin về.

Theo các bác sĩ chuyên khoa ngoại nhi, nang ống mật chủ là tình trạng dãn bẩm sinh dạng cầu hay dạng thoi của đường mật trong và ngoài gan mà không có sự tắc nghẽn nguyên phát của ống mật chủ. Đối với trẻ em, đa số (>95%) là nang ống mật chủ có hay không có kết hợp với dãn đường mật trong gan. Triệu chứng của bệnh có đau bụng, kèm sốt, nôn ói, vàng da tắc mật, bụng to; phát hiện tình cờ qua siêu âm trong thai kỳ, siêu âm bụng. Chụp mật tụy cộng hưởng từ (MRCP) giúp định dạng rõ ràng giải phẫu học của nang ống mật chủ, kênh chung mật tụy, đường mật trong gan, các cấu trúc lân cận khác. Sau điều trị phẫu thuật, bệnh nhân cần được tái khám 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, mỗi năm đến 15 tuổi. Bệnh nhân cần được xổ giun định kỳ mỗi 6 tháng; theo dõi các biến chứng hẹp miệng nối, sỏi đường mật trong gan, xơ gan, ung thư đường mật. 

Các bác sĩ lưu ý, nang ống mật chủ cần được chẩn đoán và phẫu thuật sớm ở bất kỳ lứa tuổi nào, ngay cả khi hoàn toàn không có triệu chứng.

Trần Mai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 198

Số lượt truy cập: 9444943

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang