Trong các can thiệp nha khoa như phẫu thuật răng khôn hàm dưới, đây là can thiệp nằm sâu trong khoang miệng, bác sĩ phẫu thuật khó thực hiện kỹ thuật và bệnh nhân cũng khó hợp tác đối với sử dụng phương pháp gây tê tại chỗ đơn thuần.
Theo các chuyên gia răng hàm mặt, hiện nay Y học sử dụng các phương pháp an thần kết hợp gây tê tại chỗ được áp dụng rộng rãi trong can thiệp nha khoa. Phương pháp an thần do bệnh nhân tự điều khiển (Patient Controlled sedation) bằng midazolam giúp bệnh nhân an thần nhẹ, không quá tỉnh táo, thần kinh êm dịu, quên các sự việc trong khi mổ, giảm lo lắng, bệnh nhân ít cử động và hợp tác tốt với bác sĩ trong quá trình phẫu thuật, phương pháp an thần do bệnh nhân tự điều khiển là phương pháp mới trong can thiệp nha khoa ở Việt Nam.

Tháng 11/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Nguyễn Quang Bình cùng cộng sự Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội báo cáo đề tài nghiên cứu “Sự an toàn của phương pháp an thần do bệnh nhân tự kiểm soát bằng midazolam trong thủ thuật nha khoa”. Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật một răng khôn hàm dưới (răng 38 hoặc 48); vô cảm dưới gây tê tại chỗ đơn thuần hoặc gây tê tại chỗ kết hợp với an thần. Bệnh nhân được phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật trong một Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội bởi một phẫu thuật viên có kinh nghiệm và bác sĩ gây mê hồi sức. Đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh đối chứng.
Tác giả nghiên cứu chia 2 nhóm ngẫu nhiên, nhóm (1) gây tê tại chỗ đơn thuần (n=35); nhóm (2) an thần do bệnh nhân tự điều khiển (n=35). Bệnh nhân tự thực hiện tiêm tĩnh mạch bằng cách bấm nút điều khiển bơm tiêm điện chuyên dụng; liều đầu là 0,5mg midazolam trước 1 phút khi gây tê tại chỗ như nhóm 1. Duy trì những liều tiếp theo bằng cách đặt liều bolus: 0,5mg midazolam và đặt khoảng thời gian trơ (thời gian không tác dụng giữa 2 lần bolus) là 1 phút và bệnh nhân có thể tự bấm mỗi khi lo sợ hay khó chịu.
Tiêu chí đánh giá mức độ an thần OAA/S; tần số tim, HA tâm thu; Độ bão hòa oxy mao mạch SpO2 (nếu dưới 90% là giảm); tác dụng không mong muốn như nôn, buồn nôn, ho, nấc, tăng trương lực cơ; các biến chứng trong phẫu thuật như ngừng thở, SpO2 < 90%; HA tâm thu < 90mmHg hoặc thay đổi 20% so với giá trị ban đầu. Thời điểm đánh giá T0 5 phút trước an thần; T1: 1 phút sau an thần; T2 5 phút; T3 10 phút; T4 15 phút; T5 kết thúc phẫu thuật và Tx lúc bệnh nhân xuất viện.
Tác giả nghiên cứu báo cáo phân tích, tuổi trung bình nhóm 1 là 30,37; nhóm 2 là 29,17. Các yếu tố cân nặng, giới tính và tình trạng sức khỏe ASA khá tương đồng ở cả 2 nhóm nghiên cứu.
Kết quả mức độ an thần theo OAA/S (điểm) cho thấy, tại tất cả các thời điểm từ T0 đến TX ở nhóm 1 bệnh nhân hoàn toàn tỉnh táo và OAA/S bằng 5 điểm. Tại các thời điểm từ T1 đến T5 ở nhóm 2 điểm an thần thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p<0,01). So với nhóm 1 có OAA/S lớn hơn 4, nhỏ hơn 5 là giới hạn trong vùng an thần tỉnh.Các nghiên cứu trên thế giới sử dụng an thần bằng midazolam theo phương pháp PCS không thấy bệnh nhân nào an thần quá mức, bệnh nhân hợp tác tốt và kỹ thuật thực hiện được an toàn. Trong nghiên cứu, BS Quang Bình cho biết với mức an thần này, người bệnh không bị tỉnh táo quá, bệnh nhân thư dãn, thoải mái không thấy lo sợ và hợp tác tốt trong phẫu thuật.
Về tần số tim, từ giai đoạn T1 đến T5 ở nhóm 2 thấp hơn nhóm 1 có ý nghĩa thống kê. Tác giả lý giải do dưới tác dụng của midazolam nhịp tim ổn định gần với giá trị nền hơn là do bệnh nhân giảm lo sợ, còn nhóm 1 nhịp tim có xu hướng tăng lên do bệnh nhân lo sợ trong phẫu thuật.
Đối với một số nghiên cứu khác trên thế giới, khi sử dụng midazolam liều 0,05mg/ kết quả không gây ảnh hưởng ức chế trên hô hấp ở người khỏe mạnh. SpO2 phản ánh tình trạng ức chế hô hấp, ở 2 nhóm SpO2 lớn hơn 98% trong điều kiện thở khí trời. Nhóm 2 sử dụng midazolam liều bolus 0,5mg không bị thiếu oxy cho dù bệnh nhân thở tự nhiên.
BS Quang Bình cho biết, về tỷ lệ nôn, buồn nôn và ho trong phẫu thuật ở nhóm 2 bằng midazolam và nhóm 1 khác nhau (p<0,05). Thường bệnh nhân sử dụng midazolam hiếm gặp nôn và buồn nôn. Trường hợp khi người bệnh có ho là một yếu tố không thuận lợi cho các can thiệp trong miệng, do vậy phương pháp PCS sử dụng midazolam có ưu điểm là ít tác dụng không mong muốn và an toàn hơn phương pháp gây tê đơn thuần trong phẫu thuật răng khôn hàm dưới.
Lâm Quyên