[Đăng ngày: 05/09/2017]

Tiền sản giật là tình trạng bệnh lý do thai nghén gây ra nửa sau của thai kỳ rất nguy hiểm cho cả mẹ và thai nhi. Tỷ lệ bệnh chiếm 3-6% phụ nữ mang thai. 


Tiền sản giật gồm ba triệu chứng chính là tăng huyết áp, phù và protrin niệu. Việc điều trị huyết áp có ý nghĩa quyết định đối với tiền sản giật, đặc biệt sau mổ lấy thai cơn tăng huyết áp có thể là nguy cơ đe dọa đến tính mạng của sản phụ như phù phổi cấp, xuất huyết não, nguy cơ chảy máu sau mổ. 

Từ tháng 4/2015 đến tháng 3/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Văn Dũng, Nguyễn Thị Thu Bình cùng cộng sự thực hiện nghiên cứu đề tài “Điều trị tăng huyết áp nặng bằng Nicardipine truyền tĩnh mạch liên tục cho sản phụ tiền sản giật sau mổ lấy thai”. Theo BS. Nguyễn Thị Thu Bình, đối tượng nghiên cứu là 90 sản phụ sau mổ lấy thai, tiền sản giật, có huyết áp
> 160/100mmHg. Các tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu là có một trong những chống chỉ định của nicardipine; tăng huyết áp do phản ứng sau mổ, do đau, lo lắng sợ hãi, do bí tiểu, do thiếu oxy, ưu thán, do rối loạn thân nhiệt, truyền thừa dịch. 

Nghiên cứu là loại mô tả cắt ngang, thực hiện tại khoa gây mê hồi sức Bệnh viện Trung ương Huế. BS. Thu Bình cho biết, các bước đã tiến hành bao gồm đo huyết áp động mạch mỗi 2-5 phút trên monitoring; sử dụng nicardipine truyền tĩnh mạch liên tục; liều bolus 6 mg/giờ qua bơm tiêm điện (SE) trong 10-20 phút (1-2mg); khi huyết áp tâm thu giảm được 15% với ban đầu, chuyển sang liều duy trì từ 1-2 mg/giờ qua bơm tiêm diện, chỉnh liều theo huyết áp; không để huyết áp tâm thu giảm quá nhanh trên 30% trong giờ đầu. Nhóm nghiên cứu theo dõi huyết áp, nhịp tim, áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) ở các thời điểm: trước khi dùng nicardipine (T1); khi huyết áp tâm thu giảm 15% so với huyết áp tâm thu ban đầu (T2); 30 phút sau dùng nicardipine duy trì (T3); sau 1 giờ (T4); sau 2 giờ (T5) và sau 6 giờ dùng nicardipine duy trì (T6). Đánh giá huyết áp tính theo mmHg và theo % của huyết áp ban đầu trước khi sử dụng nicardipine (T1). 

BS. Thu Bình phân tích báo cáo, độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 28,35; người nhỏ tuổi nhất là 21 tuổi, lớn nhất là 39 tuổi. Có 45,15% đối tượng nghiên cứu tăng huyết áp độ 2; 54,85% đối tượng tăng huyết áp độ 3. Sự biến đổi áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP) trong quá trình sử dụng nicardipine cho thấy CVP ở thời điểm T4, T5 và T6 giảm dần so với T1 (11,4
+ 1,76 cm H2O), có ý nghĩa thống kê (p<0,01). Do tác dụng của nicardipine là giãn động mạch, tĩnh mạch, các tác dụng không mong muốn như tiểu nhiều nên gây giảm nhẹ CVP. 

Đánh giá thang điểm đau (VAS), kết quả cho thấy không có trường hợp nào đau từ mức độ vừa trở lên. Tác giả nghiên cứu cho biết đã chủ động giảm đau bệnh nhân sau mổ tốt, tránh trường hợp tăng huyết áp do đau; về Magiesulphat (MgSO4) trong máu sau mổ đạt giá trị bình thường 0,66-1,07 mmol/L; trong giới hạn cho phép của điều trị tiền sản giật. 

Đối với liều nicardipine và biến đổi huyết áp tâm thu sau khi dùng nicardipine, tác giả nghiên cứu cho biết, chuẩn độ liều khởi đầu qua bơm tiêm điện truyền tĩnh mạch liên tục 6mg/ giờ; thời gian truyền trung bình là 13,88 phút; tương ứng với liều khởi đầu là 1,39 mg; huyết áp tâm thu giảm 15% so với ban đầu, đạt 100% đối tượng nghiên cứu; đối với những sản phụ phù nhiều dùng thêm lợi tiểu, truyền MgSO4 giữ magie ở mức giới hạn cao. 


Huyết áp tâm thu sau dùng liều duy trì 1-2 mg/giờ giảm dần về huyết áp mục tiêu ở các thời điểm 1 giờ, 2 giờ và 6 giờ là 142,32 mmHg; 139,53 mmHg và 138,42 mmHg; ứng với tỷ lệ huyết áp tâm thu giảm dần so với huyết áp ban đầu (T1) là 24,5%; 25,9% và 26,5%. 

Huyết áp tâm thu trước khi dùng nicardipine (T1) trung bình là 109,73 mmHg, sau dùng liều duy trì nicardipine giảm dần sau 30 phút (T3); sau 1 giờ (T4); sau 2 giờ (T5) và sau 6 giờ (T6) theo thứ tự là 12,86%; 17,19%; 21,96% và 28,67%. Trong nghiên cứu không có trường hợp nào bị tụt huyết áp nặng vượt quá 25% so với huyết áp ban đầu trong 1 giờ đầu; không có trường hợp nào huyết áp tâm thu giảm dưới 90mmHg trong quá trình điều trị. Lý do BS. Thu Bình cho biết do là chuẩn độ liều bolus nicardipine qua bơm tiêm điện và trong quá trình chuyền bolus nếu huyết áp tâm thu giảm xuống 15% so với huyết áp tâm thu ban đầu thì ngưng chuyền bolus và chuyển sang liều duy trì. 

Từ kết quả nghiên cứu, BS.Thu Bình có kết luận, nicardipine là thuốc hạ huyết áp có hiệu quả và an toàn; thuốc có thể kiểm soát được huyết áp ở sản phụ tiền sản giật nặng sau mổ lấy thai.

Thanh Tùng

    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 397

Số lượt truy cập: 9441595

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang