Lao xương và khớp chiếm khoảng 1 – 3% trong số các bệnh nhân lao. Bệnh lý lao khớp ức đòn rất hiếm gặp, chiếm 1 – 2% các bệnh nhân lao xương và khớp.
Vừa qua, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Đức Nam cùng cộng sự Bệnh viện Hữu Nghị, Hà Nội nghiên cứu báo cáo đề tài “Chẩn đoán và điều trị lao khớp ức đòn” với phương pháp nghiên cứu hồi cứu ca bệnh.
Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân nam 85 tuổi, vào viện vì sưng đau khớp ức đòn bên phải, bệnh đã diễn biến gần 2 năm, tăng nặng trước nhập viện 10 ngày. Bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường 6 năm, điều trị bằng thuốc viên. Khám lâm sàng thấy khối vị trí khớp ức đòn phải, kích thước 5 x 3cm, sưng nóng đỏ, mật độ chắc, bờ gồ ghề, ranh giới rõ, ấn lổn nhổn. Bệnh nhân không ho, không sốt; không thấy hạch to vùng cổ và hố thượng đòn. Cử động của vai phải bình thường. Trên film X-quang phổi không thấy hình ảnh tổn thương nhu mô phổi 2 bên; không thấy tổn thương xương sườn và khớp ức đòn. Chụp kết quả film cắt lớp vi tính 64 dãy thấy khối vùng ức đòn bên phải, kích thước 58 x 74mm; ngấm thuốc mạnh và không đều sau tiêm, khối xâm lấn đầu trong xương đòn bên phải; một phần xương ức và xương sườn 1; phát triển ra phần mềm thành ngực kèm theo một số hạch trung thất.
Kết quả chụp phim cộng hưởng từ thành ngực cho thấy khối kích thước 38 x 55 x 71mm; có tín hiệu hỗn hợp; Ngấm thuốc tiêm đối quang không đồng nhất; không thấy hình ảnh đường rò; cấu trúc xương lân cận khối không thấy biến đổi tín hiệu.
BS Lê Đức Nam phân tích, các kết quả của chẩn đoán hình ảnh đều hướng đến một tổn thương u ác tính. Thực hiện sinh thiết, kết quả giải phẫu bệnh không thấy tế bào ác tính, tổn thương là các nang lao không điển hình với các tế bào khổng lồ nhiều nhân, tế bào bán liên, lympho bào. Bệnh nhân được tiến hành điều trị ngoại trú với phác đồ lao xương khớp.
.jpg)
Tác giả nghiên cứu cho biết, lao ở phổi là bệnh lý thường gặp hơn là lao ngoài phổi, lao xương và khớp. Viêm khớp ức đòn do vi khuẩn thường gặp là do tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh hơn là nguyên nhân do trực khuẩn lao. Bệnh lý lao khớp ức đòn thường diễn biến từ từ không triệu chứng hơn 1 năm; bình thường được phát hiện muộn với biểu hiện tại chỗ của một khối áp xe lạnh vỡ, có đặc điểm sưng nóng đỏ, ổ dò dịch ra ngoài da.
Về cận lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh là phương tiện hữu hiệu giúp định hướng chẩn đoán; như X-quang, chụp cắt lớp vi tính CT và chụp cộng hưởng từ MRI. Bệnh nhân lao khớp ức đòn thường rất khó xác định tổn thương trên phim X-quang, BS Nam cho biết đối với bệnh nhân trong nghiên cứu, có X-quang phổi bình thường, không quan sát được các tổn thương xương. Nguyên nhân do khớp ức đòn nằm sau, thường là nơi hợp lưu của nhiều xương nên thường bị che lấp, tổn thương lao khớp là các tổn thương áp xe lạnh, mô mềm phát triển ra sau nên rất khó quan sát trên X-quang phổi thường. Cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ là các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại, giúp ích rất nhiều trong việc chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân. Hình ảnh trên CT giúp đánh giá mức độ phá hủy xương, hình ảnh ổ hoại tử và xâm lấn cấu trúc xung quanh. Cộng hưởng từ có giá trị phát hiện tổn thương lao của khớp sớm hơn so với phương pháp chụp CT. Trên cộng hưởng từ, tổn thương áp xe lao điển hình có đặc điểm đồng tín hiệu, tăng tín hiệu, ngấm thuốc mạnh sau tiêm, các xương lân cận biến đổi tín hiệu trên các hình ảnh, có thể thấy đường rò ra ngoài da.
BS Nam lưu ý, trong trường hợp nghiên cứu khó phân biệt các tổn thương viêm khác; tổn thương u ác tính, do vậy thực hiện sinh thiết xác định mô bệnh học. Với kết quả thấy các nang lao không điển hình, tế bào khổng lồ nhiều nhân, tế bào bán liên, lympho bào; không thấy tế bào ác tính; bệnh nhân đã được điều trị theo hướng lao khớp và triệu chứng hoàn toàn cải thiện. Phác đồ điều trị bệnh nhân là 2HPZE/6RHE; giai đoạn tấn công 2 tháng duy trì 6 tháng.
BS Lê Đức Nam có kết luận, lao khớp ức đòn là bệnh lý hiếm gặp. Cận lâm sàng chẩn đoán hình ảnh phim CT và cộng hưởng từ rất có giá trị xác định các tổn thương; trong đó chụp cộng hưởng từ hữu hiệu hơn trong việc xác định tổn thương sớm của lao khớp. Chẩn đoán bệnh thường phải dựa vào sinh thiết hoặc sau mổ. Việc điều trị lao khớp đã có nhiều tiến bộ với kết quả khả quan cần phối hợp với điều trị phẫu thuật trong một số trường hợp. Trong nghiên cứu, bệnh nhân 85 tuổi, được chẩn đoán, điều trị theo phác đồ điều trị lao khớp và theo dõi trong 2 năm.
Đức Bảo