Theo các chuyên gia gây mê hồi sức, gây tê màng ngoài cứng là một trong những phương pháp vô cảm có nhiều ưu điểm để mổ lấy thai.

Có nhiều loại thuốc tê được sử dụng gây tê ngoài màng cứng như Lidocain, Bupivacain, Levobupivacain, Ropivacain; mỗi thuốc có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Bupivacain là một thuốc tê mạnh nhưng gây độc trên thần kinh trung ương và tim mạch; thời gian chờ tác dụng thuốc tê kéo dài, do đó thuốc không ưa dùng để gây tê ngoài màng cứng để mổ lấy thai. Lidocain có thời gian chờ tác dụng ngắn; thời gian tác dụng cũng ngắn và tiềm tàng nguy cơ độc tim mạch và thần kinh. Ropivacain ít gây độc tính trên thần kinh và tim mạch hơn Bupivacain. Ropivacain tác dụng chọn lọc hơn trên các sợi thần kinh cảm giác so với các thuốc tê khác, do đó ít gây ức chế vận động hơn. Khi tiêm nhầm vào mạch máu, Ropivacain ít gây hậu quả trên tim mạch hơn so với Bupivacain.
Từ tháng 6/2015 đến tháng 6/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Vũ Văn Du cùng cộng sự Bệnh viện Phụ sản Trung ương tiến hành nghiên cứu “So sánh hiệu quả vô cảm và tác dụng không mong muốn của Ropivacaine với Lidocain trong gây tê ngoài màng cứng để mổ lấy thai”. Theo tác giả nghiên cứu, đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có so sánh, 60 đối tượng nghiên cứu là những sản phụ có chỉ định mổ lấy thai chủ động được chia làm hai nhóm. Sản phụ trong độ tuổi sinh đẻ từ 18-35 có đủ điều kiện gây tê ngoài màng cứng, sản phụ có một thai, thai đủ tháng, phát triển bình thường, tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Về thuốc và liều dùng trong nghiên cứu, đối với nhóm 1: 120 mg Ropivacain 0,5% và 0,1mg fentanyl; nhóm 2: 300 mg Lidocain 2% cộng với 0,1 mg Fentanyl. Nghiên cứu đánh giá đặc điểm đối tượng nghiên cứu; hiệu quả phong bế cảm giác đau và tác dụng mềm cơ thành bụng; các tác dụng không mong muốn trên mẹ và con.
Theo phân tích của tác giả Nguyễn Văn Du, đặc điểm về tuổi, chiều cao, cân nặng của đối tượng nghiên cứu và tuổi thai của hai nhóm nghiên cứu khác nhau nhưng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Về hiệu quả phong bế cảm giác và giãn cơ, thời gian khởi tê đến D12, D10, D6 và D4 để đảm bảo cho rạch da, mức tê phải đến D10, còn để co kéo phúc mạc không đau, không tức thì mức tê phải đến D4. Mức độ phong bế phụ thuộc nồng độ thuốc tê, thể tích thuốc tê và độ mạnh thuốc tê. Thể tích thuốc tê ở 2 nhóm được sử dụng như nhau là 20 ml; như vậy nồng độ và độ mạnh của 2 thuốc là tương đương.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian khởi tê đến D4 của 2 nhóm nghiên cứu đều từ 14,5 đến 20 phút, tiến hành mổ sau khi bơm thuốc tê 15 đến 20 phút. Tác giả nghiên cứu lưu ý thời gian vô cảm để mổ, thời gian này ảnh hưởng đến sự đáp ứng thời gian cho các trường hợp phẫu thuật dính, phải gỡ dính cần kéo dài cuộc mổ. Trong nghiên cứu, thời gian kéo dài ức chế cảm giác đến D6 trung bình của nhóm 1 là 86,33 phút (55-105 phút), dài hơn so với nhóm 2 là 76,9 phút (65-125 phút), nhưng sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Tác giả nghiên cứu cho rằng Ropivacain có thể đáp ứng được cho những cuộc mổ có thể kéo dài tới 105 phút. Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% các trường hợp của cả 2 nhóm nghiên cứu đều có chất lượng vô cảm tốt, không có trường hợp nào phải chuyển phương pháp vô cảm. Theo BS.Du, Ropivacain có đặc điểm là ít ức chế vận động nhất trong nhóm thuốc tê amid. Trong nghiên cứu, thời gian phục hồi vận động sau mổ ở mức Bromage 1 của nhóm 1 là 135,8 phút (11—170 phút) ngắn hơn so với nhóm 2 là 145,6 phút (100-160 phút); tuy nhiên p>0,05. BS.Du cho rằng, các phẫu thuật viên quan tâm là thuốc sử dụng có đảm bảo độ mềm cơ bụng ở nhóm 1 đạt tỷ lệ tốt là 90% tốt hơn so với nhóm 2 là 86,67%. Ở mức trung bình nhóm 2 có tỷ lệ 13,33% nhiều hơn so với nhóm 1 là 10%. Không ghi nhận trường hợp nào có độ mềm cơ kém.
Về thời gian giảm đau sau mổ, nhóm 1 là 4,16 giời (3-6 giờ) dài hơn so với nhóm 2 là 2,45 giời (1-4 giờ). Đây là một ưu điểm của Ropivacain so với Lidocain.
Đối với tác dụng không mong muốn của thuốc xét trên sự ảnh hưởng lên huyết động, kết quả nghiên cứu cho thấy từ T3 đến T14 nhịp tim của nhóm 2 chậm hơn so với nhóm 1 (p<0,05). Chứng tỏ ảnh hưởng trên tần số tim của Ropivacain ít hơn so với Lidocain. Ở nhóm 2, tỷ lệ giảm huyết áp trên 30%, nhiều hơn so với nhóm 1 là 10%; tổng hợp thuốc Ephedrin dùng để điều trị hạ huyết áp của nhóm 2 cao hơn so với nhóm 1. Như vậy, Lidocain có ảnh hưởng lên tim mạch nhiều hơn so với Ropivacain.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có tác dụng không mong muốn ở người mẹ như ngứa, rét run, bí tiểu, đau đầu, nôn ở cả hai nhóm đều rất thấp. Đối với tác dụng không mong muốn lên trẻ sơ sinh, chỉ số Apga phút thứ nhất và phút thứ năm của nhóm 2 khác nhau không có ý nghĩa thống kê, không có trường hợp nào ngạt, apga dưới 7 điểm. Như vậy, cả 2 thuốc sử dụng đều không ảnh hưởng tới trẻ sơ sinh.
Phúc Nguyên