
Bệnh lý tim mạch bẩm sinh ở người lớn là một bệnh lý chiếm một tỷ lệ khá lớn, có những nét đặc trưng riêng biệt; đòi hỏi kiến thức chuyên sâu và chiến lược chẩn đoán cũng như xử trí đặc thù. Vấn đề phẫu thuật điều trị bệnh nhân tim mạch bẩm sinh người lớn có nhiều khác biệt so với tim bẩm sinh ở trẻ em.
Theo các chuyên gia phẫu thuật tim mạch, mô hình bệnh lý tim mạch bẩm sinh ở Việt Nam có những nét khác biệt cơ bản so với các quốc gia phát triển. Ở các nước phát triển phần lớn các bệnh nhân tim bẩm sinh phức tạp được phát hiện và điều trị từ rất sớm. Các bệnh nhân tim bẩm sinh người lớn còn tồn tại phần lớn là các bệnh nhân đã được phẫu thuật sửa chữa nhưng còn để lại một số tổn thương tồn dư. Tại Việt Nam, do điều kiện phát hiện và điều trị sớm các bệnh tim bẩm sinh còn nhiều hạn chế, do vậy nhiều bệnh nhân tim bẩm sinh được phát hiện, điều trị muộn ở tuổi người lớn hoặc trung niên. Số người phát hiện qua khám điều trị bệnh tim người lớn ở Viện Tim mạch Việt Nam số lượt điều trị khá lớn.
Từ tháng 1/2011 đến tháng 12/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Dương Đức Hùng cùng cộng sự Viện Tim quốc gia; Bệnh viện Bạch Mai Hà Nội tiến hành nghiên cứu báo cáo đề tài “Nhận xét về điều trị phẫu thuật các bệnh tim bẩm sinh ở người lớn”. Theo tác giả nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu là tất cả các bệnh nhân có chẩn đoán bệnh lý tim bẩm sinh đã được phẫu thuật tại đơn vị phẫu thuật tim mạch Bệnh viện Bạch Mai; đây là nghiên cứu hồi cứu, phân tích mô tả, ghi nhận tất cả các thông số, đặc điểm tổn thương, tình trạng áp lực động mạch phổi, tiền sử theo dõi và phát hiện bệnh; các thông số liên quan đến phẫu thuật như kỹ thuật mổ, thời gian nằm hồi sức, tỷ lệ biến chứng, tỷ lệ tử vong.
BS.Dương Đức Hùng báo cáo phân tích, trong 5 năm Bệnh viện đã phẫu thuật cho 549 bệnh nhân tim bẩm sinh, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 32,02; người nhỏ tuổi nhất là 2 tuổi, lớn tuổi nhất là 69 tuổi. Nam giới chiếm 48%, nữ giới chiếm 52%. Tỷ lệ tử vong chung cho tất cả bệnh nhân thời kỷ chu phẫu là 1,6%.
Theo BS.Hùng, bệnh nhân tim bẩm sinh người lớn được định nghĩa như là người có bệnh tim bẩm sinh dù là chưa được mổ sửa chữa hay đã từng được mổ nhưng đã trưởng thành đến trên 21 tuổi; trên thực tế quá trình chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn đã bắt đầu từ năm 12 tuổi. Về phân loại các hình thái tim bẩm sinh gặp ở người lớn, trường hợp tim bẩm sinh nguyên phát ở người lớn bao gồm các bệnh nhân chưa từng được điều trị gì cả; các bệnh nhân khám và phát hiện muộn; chưa được điều trị vì mới phát hiện được bệnh ít gây triệu chứng hoặc không có điều kiện khám chẩn đoán; hoặc dị tật tuy trước đây đã có chẩn đoán nhưng bệnh khá lành tính; hoặc bệnh trước đây cho dù là không phẫu thuật được nhưng có thể thực hiện mổ được. Ở trong nghiên cứu, phần lớn là các bệnh nhân chưa từng điều trị, không có nhiều bệnh nhân đã từng được điều trị phẫu thuật sửa chữa trước đây.
Tác giả nghiên cứu cho biết, các bệnh nhân trước mổ được đánh giá kỹ về các triệu chứng cơ năng trước kia và hiện tại, khám kỹ các triệu chứng thực thể, được chụp X-quang tim, phổi, điện tim, siêu âm Doppler để khảo sát hệ thống các bất thường giải phẫu, đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh lên cấu trúc của buồng tim và van tim; ước tính mức độ nặng của chỗ hẹp, lưu lượng shunt và tình trạng tăng áp phổi. Các trường hợp cần đánh giá chức năng chính xác hơn được thực hiện chụp cộng hưởng từ MRI, chụp MSCT, xét nghiệm thông tim và chụp buồng tim được chỉ định đối với những trường hợp dị tật phức tạp, tăng áp phổi nặng, đánh giá sức cản và khả năng còn đáp ứng (vasoreactivity) của động mạch phổi.
Đa số các dị tật trong tim được phẫu thuật với tuần hoàn ngoài cơ thể, đẳng nhiệt hoặc hạ thể nhiệt, phương pháp bảo vệ cơ tim dùng máu (blood cardioplegia). Đối với các trường hợp tử vong nguyên nhân có liên quan đến tình trạng tăng áp lực động mạch phổi trước mổ.
BS.Hùng chia sẻ, có 41,3% đối tượng nghiên cứu là bệnh lý thông liên nhĩ, đây là dị tật phần lớn không có triệu chứng lúc còn bé, vẫn lớn lên bình thường. Lưu lượng shunt của thông liên nhĩ phụ thuộc vào chênh áp giữa nhĩ trái và nhĩ phải. Khi người bệnh càng nhiều tuổi, các vấn đề của tim trái làm giảm độ thư giãn của thất trái như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, bệnh van hai lá sẽ làm tăng áp lực nhĩ trái, tăng lưu lượng shunt qua thông liên nhĩ, khi đó bệnh nhân mới biểu hiện triệu chứng.
Mọi hình thái giải phẫu của thông liên nhĩ ở trẻ em đều có thể thấy ở người lớn. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào siêu âm Doppler qua thành ngực và thực quản; đánh giá thương tổn bệnh và mức độ rối loạn sinh lý bệnh. Chỉ định mổ hoặc can thiệp cần thiết cho các bệnh nhân thông liên nhĩ mà shunt đủ lớn, có dấu hiệu tăng gánh thể tích thất phải, tuy nhiên chưa tăng áp lực động mạch phổi cố định; không có chỉ định mổ đối với bệnh đến giai đoạn tăng sức cản phổi cố định (Eisenmenger).
BS.Hùng cho biết, về kỹ thuật mổ các lỗ thông kích thước lớn được đóng bằng patch màng tim hoặc vật liệu nhân tạo. Nếu lỗ thông có gờ chắc, tổ chức khi kéo lại không bị căng, được đóng bằng khâu trực tiếp hai lượt. Có 27 bệnh nhân được phẫu thuật sửa chữa đối với kênh nhĩ thất bán phần; với rãnh xẻ giữa 2 thành phần trước van nhĩ thất trái gây hở van được đóng lại. Vòng van nếu giãn nhiều, làm hở van, được tạo hình thu nhỏ lại trên phần vòng van lá sau. Tác giả nghiên cứu cũng cho biết, đối với bệnh lý tứ chứng Fallot, Việt Nam trong thời gian đến sẽ gặp ngày càng nhiều; các kết quả nghiên cứu cho thấy sự cải thiện tốt tình trạng cơ năng và chất lượng sống ở nhóm này.
Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh việc phẫu thuật bệnh tim bẩm sinh đã đem lại lợi ích cho bệnh nhân, giúp cải thiện triệu chứng, nâng cao chất lượng cuộc sống và phòng ngừa được các biến chứng nguy hiểm cho người bệnh.
Tường Huân