Gây mê nội khí quản là phương pháp được áp dụng để thực hiện vô cảm cho nhiều loại phẫu thuật, trong đó có phẫu thuật nội soi ổ bụng.

Gây mê nội khí quản thường được sử dụng với thuốc mê hô hấp hoặc thuốc mê tĩnh mạch có kiểm soát nồng độ đích. Propofol là thuốc mê tĩnh mạch được sử dụng trên lâm sàng từ năm 1986; đây là thuốc mê tĩnh mạch có nhiều ưu điểm như khởi mê nhanh, êm dịu, thoát mê cũng êm dịu; thuốc có tác dụng làm giảm phản xạ vùng hầu họng. Từ năm 1996, kỹ thuật gây mê tĩnh mạch bằng Propofol có kiểm soát nồng độ đích được áp dụng trên lâm sàng mang lại kết quả tốt cho người bệnh.
Từ tháng 2/2016 đến tháng 12/2016, nhóm tác giả nghiên cứu Lê Sáu Nguyên cùng cộng sự Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên; Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên và Học Viện Quân Y tiến hành nghiên cứu và báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả của phương pháp gây mê tĩnh mạch bằng Propofol có và không có kiểm soát nồng độ đích trong phẫu thuật nội soi ổ bụng”. Theo tác giả nghiên cứu đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật nội soi ổ bụng, tuổi 18 – 60; không có chống chỉ định gây mê bằng Propofol, tự nguyện tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ là bệnh nhân có viêm phúc mạc toàn bộ; thời gian phẫu thuật kéo dài trên 6 giờ; có tai biến, biến chứng về phẫu thuật. Đặc điểm nghiên cứu thực hiện tại khoa gây mê hồi sức, Bệnh viện đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Chỉ tiêu nghiên cứu là lượng Propofol cần để đặt nội khí quản tổng lượng Propofol tiêu thụ; thời gian để đạt tiêu chuẩn đặt nội khí quản, thời gian chờ rút nội khí quản. Tổng liều thuốc giảm đau và giãn cơ. Các thời điểm nghiên cứu T0 (trước gây mê); T1(đặt nội khí quản); T2(rạch da); T3(bơm CO2); T4(sau bơm CO2 20 phút); T5(dừng bơm CO2); T6(rút nội khí quản).
Tác giả Lê Sáu Nguyên phân tích báo cáo, ở 2 nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt về độ tuổi, tỷ lệ giới tính, ASA, chiều cao, cân nặng. Tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 37,5; cân nặng trung bình là 58,7kg. Chỉ số khối cơ thể BMI trung bình là 22,5.
Về đặc điểm thời gian gây mê, thời gian làm mất ý thức của nhóm đối tượng nghiên cứu gây mê tĩnh mạch bằng Propofol có kiểm soát nồng độ đích (TCI) chậm hơn so với nhóm gây mê tĩnh mạch bằng Propofol không có kiểm soát nồng độ đích (TIVA).
Về thời gian thức tỉnh, tác giả nghiên cứu báo cáo kết quả là 9,3 + 1,4 phút ở nhóm TCI; đối với nhóm TIVA thời gian thức tỉnh là 2,1 phút. Thời gian rút ống nội khí quản trung bình là 15,7 phút đối với nhóm TIVA; còn đối với nhóm TCI là 13,6 phút.
Đối với đặc điểm về liều lượng thuốc; lượng thuốc mê để khởi mê trong nghiên cứu, tác giả nghiên cứu cho biết đối với nhóm TIVA là 117,3 mg; còn đối với nhóm TCI là 124,4 mg. Lượng thuốc khởi mê ở nhóm TCI lớn hơn không đáng kể so với nhóm TIVA. Tổng lượng thuốc mê Propofol cần dùng trong cuộc mê của nghiên cứu là 382,6 + 7,9,8 mg ở nhóm TCI; đối với nhóm TIVA là 437,0 + 112,7 mg. Như vậy tổng liều thuốc mê của nhóm TIVA cao hơn so với nhóm TCI.
Về ảnh hưởng lên tuần hoàn và tác dụng không mong muốn của thuốc Propofol, kết quả nghiên cứu cho thấy, tác động lên tuần hoàn ở cả 2 nhóm là như nhau; trong đó Huyết áp trung bình của đối tượng nghiên cứu giảm sau khởi mê; sau đó huyết áp tăng dần và cao nhất ở thời điểm sau bơm CO2 20 phút. Có những giải thích thời gian 20 phút đầu sau bơm CO2 là thời điểm CO2 thấm vào hệ tuần hoàn cao nhất và đạt mức bình nguyên; đây là thời điểm có ảnh hưởng nhiều lên tuần hoàn của việc bơm CO2 làm tăng áp lực ổ bụng.
Tác giả nghiên cứu cho biết có vài tác dụng không mong muốn của thuốc; nhưng tỷ lệ thấp và không có sự khác biệt ở 2 nhóm đối tượng nghiên cứu. Đối với nhóm TIVA có 1 bệnh nhân buồn nôn; 1 bệnh nhân có cử động bất thường. Đối với nhóm TCI có 1 bệnh nhân run sau rút nội khí quản.
Tác giả Lê Sáu Nguyên có kết luận nghiên cứu, gây mê tĩnh mạch bằng Propofol có và không có kiểm soát nồng độ đích đạt kết quả tốt cho phẫu thuật nội soi ổ bụng. Phương pháp TCI giúp kiểm soát độ mê tốt hơn; ít ảnh hưởng lên huyết động hơn so với phương pháp TIVA. Ngoài ra phương pháp TCI còn giúp giảm liều sử dụng thuốc Propofol so với phương pháp TIVA; rút ngắn thời gian hồi tỉnh hơn đối với phương pháp TIVA.
Anh Duy