
Tại hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, tác giả Nguyễn Tá Đông – Bệnh viện Trung ương Huế cùng cộng sự đã báo cáo nghiên cứu “Mối liên quan giữa rối loạn nhịp tim qua Holter điện tim 24 giờ với tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5/2012 đến tháng 6/2013 trên 108 bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: nhóm chụp động mạch vành (DSA) có hẹp 55 bệnh nhân (nhóm bệnh); nhóm chụp động mạch vành không có hẹp khu trú: 53 bệnh nhân (nhóm chứng). Tất cả các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được khảo sát theo phiếu nghiên cứu với quy trình: hỏi tiền sử, bệnh sử, khám lâm sàng, xét nghiệm sinh hóa, máu đúng theo quy trình, thủ thuật thăm dò được tiến hành và phân tích tại Trung tâm chuyên khoa của bệnh viện. Đối với kỹ thuật Holter điện tim, nghiên cứu sử dụng máy hiệu MT-200 hãng Schiller, phần mềm giải mã MSC-800 Holter monitoring.
Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm bệnh có tuổi trung bình là 71, nhóm 70 – 80 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất là 33%; nhóm dưới 50 tuổi chỉ chiếm 5,5%. Ở nhóm chứng tuổi trung bình là 71,7%, nhóm 70 – 80 tuổi cũng chiếm tỷ lệ nhiều nhất (34%); nhóm dưới 50 tuổi thấp nhất gần 4%.
Theo Bs Nguyễn Tá Đông, một số yếu tố nguy cơ chính của đối tượng nghiên cứu là hút thuốc lá, chính việc hút thuốc lá thúc đẩy quá trình hình thành mãng xơ vữa động mạch và hậu quả là có thể gây ra cơn đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim; Theo các nghiên cứu của nhiều tác giả, tỷ lệ thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim ở người hút thuốc lá cao hơn 5 lần so người không hút thuốc lá. Nguy cơ mắc bệnh sẽ giảm ngay sau khi người hút thuốc từ bỏ được thuốc lá. Các yếu tố nguy cơ khác gồm tăng huyết áp, đái tháo đường và rối loạn lipit máu. Trong nghiên cứu này, Bs Đông báo cáo tỷ lệ bệnh nhân có < 1 yếu tố nguy cơ chiếm 22%; có 2 yếu tố nguy cơ chiếm 36,4%. Ở những bệnh nhân hẹp động mạch vành có tỷ lệ rối loạn nhịp tim nhiều hơn, phức tạp hơn so với nhóm bệnh nhân không hẹp. Nhịp nhanh xoang ở nhóm bệnh là gần 53% cao gấp 4 lần so với nhóm chứng (p<0,05). Tỷ lệ gặp ngoại tâm thu thất ở nhóm bệnh là 52,7% cao gần gấp 2 lần so với nhóm chứng (p<0,05).
Thời gian xuất hiện ngoại tâm thu thất vào ban đêm nhiều hơn ban ngày. Tỷ lệ mức độ rối loạn nhịp thất nặng và phức tạp ở nhóm bệnh cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng (p<0,05). Đặc biệt tỷ lệ ngoại tâm thu thất dày, ngoại tâm thu thất đơn dạng và phân loại Lown ở độ I, II, III, IV, V ở nhóm bệnh lần lượt là 52,7%; 50,9% cao hơn nhóm chứng gần gấp đôi (p<0,05).
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ rối loạn nhịp xoang, ngoại tâm thu thất, nhịp nhanh thất, ngoại tâm thu nhĩ và nhịp nhanh trên thất giữa nhóm bệnh và nhóm chứng khác biệt có ý nghĩa thống kê. Đối với tỷ lệ ngừng xoang, ngoại tâm thu thất dày, ngoại tâm thu thất phức tạp và ngoại tâm thu thất theo độ III, IV và V theo phân độ Lown tăng rõ rệt ở nhóm bệnh nhân tổn thương nhiều nhánh động mạch vành (p<0,001). Việc tổn thương nhiều nhánh động mạch vành có giá trị dự báo dương tính nguy cơ xuất hiện ngoại tâm thu thất dày, phức tạp và ngoại tâm thu thất độ III, IV, V theo phân độ Lown tương ứng là 25%, 30,8%, 31,4%.
Chúng ta biết rằng, bệnh động mạch vành là một bệnh rất phổ biến và trầm trọng. Bệnh động mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở tất cả các quốc gia. Đau thắt ngực ổn định là thể bệnh thường gặp mà các rối loạn nhịp tim thường hay xảy ra. Holter điện tim là phương pháp thăm dò không chảy máu, phát triển trên nền tảng ECG thông thường nhưng có thể ghi liên tục trong thời gian dài nên rất có giá trị trong chẩn đoán và theo dõi điều trị các rối loạn nhịp. Cùng với sự phát triển của kỹ thuật toán tin, ghi Holter điện tim được kết hợp với chức năng tính độ biến thiên nhịp tim, cung cấp cho bác sĩ các thông số chẩn đoán, thông tin dự báo đột tử, đánh giá điều trị các rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân đau thắt ngực ổn định, tìm hiểu các mối liên quan giữa rối loạn nhịp tim với mức độ tổn thương động mạch vành.
Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ thường gặp đối với bệnh tim mạch. Theo thống kê của Framingham nguy cơ mắc bệnh động mạch vành tăng từ một đối với người có huyết áp tâm thu < 120 mmHg đến 2,82 lần đối với người có huyết áp tâm thu 140 – 159 mmHg và đến 4,51 lần với người có huyết áp tâm thu > 180 mmHg. Đối với nguy cơ của đái tháo đường, đái tháo đường làm cho tiên lượng bệnh động mạch vành xấu hơn nhiều; bệnh nhân kèm theo đái tháo đường có thể làm lu mờ triệu chứng của cơn đau thắt ngực. Đối với nguy cơ rối loạn lipit máu là một trong những yếu tố khởi đầu cho quá trình hình thành và phát triển xơ vữa động mạch nói chung hay của động mạch vành nói riêng. Rối loạn lipit máu sẽ làm rối loạn chức năng của nội mạc mạch máu, dẫn đến xơ vữa động mạch vành và hậu quả gây ra hội chứng mạch vành cấp. Khi tăng LDL-C, nhất là loại có kích thước nhỏ và đậm đặc thì LDL-C dễ dàng chui vào lớp dưới nội mạc của thành mạch. Tăng LDL-C là yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành, mức cholesterol toàn phần và LDL-C càng cao thì nguy cơ bệnh mạch vành càng tăng lên.
Trần Mai