[Đăng ngày: 27/12/2015]
Tại Hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức tháng 12/2015, nhóm tác giả Trần Đức Hùng, Đoàn Văn Đệ, Tạ Tiến Phước - Bệnh viện Quân Y 103 và Bệnh viện Đông Đô Hà Nội đã báo cáo nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị bệnh động mạch chi dưới bằng phương pháp can thiệp nội mạch”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2010 đến tháng 6/2013, có 86 bệnh nhân được chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới mạn tính tự nguyện tham gia nghiên cứu. Bệnh nhân có triệu chứng: đau cách hồi, đau khi nghỉ hoặc loét, hoại tử ở chi dưới hoặc có chỉ số ABI < 0,9. Thời gian xuất hiện các triệu chứng trên 2 tuần, bệnh nhân được chụp động mạch chi dưới cản quang có hẹp trên 50% đường kính lòng mạch.
Phương pháp điều trị can thiệp nội mạch bằng nong bóng, nếu sau nong bóng vẫn còn hẹp trên 30% đường kính hoặc có tách thành động mạch mức độ vừa và nặng thì tiến hành đặt stent. Kết quả thủ thuật thành công khi mở thông được dòng chảy động mạch như bình thường, thất bại khi không đưa được dây dẫn; bóng, stent qua được tổn thương hoặc có các biến chứng như huyết khối cấp, bóc tách, rách thành động mạch.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 73; tuổi thấp nhất là 27 và cao nhất là 92. Nam giới 71 người (82,6%); nữ giới 15 người. Kết quả chụp động mạch chi dưới có 24 bệnh nhân (27,9%) tổn thương động mạch cả 2 chân; 62 bệnh nhân (72,1%) tổn thương động mạch một chân. Phân loại hình thái tổn thương được can thiệp theo Hiệp hội xuyên Đại Tây Dương (TASC) 2007 cho thấy đối với tầng chậu là TASC B; tầng đùi khoeo là TASC D; đối với tổn thương dưới gối là TASC D; ở dưới gối không gặp tổn thương TASC A (tổn thương đơn giản).
Theo BS Trần Đức Hùng, kết quả điều trị bằng phương pháp can thiệp nội mạch, tổng số 141 lần can thiệp động mạch tổn thương được tiến hành ở các tầng; tỷ lệ thành công chung là 90%. Xét thành công ở từng vị trí, tầng chậu 90,5%; tầng đùi – khoeo 94,4% và tầng dưới gối thành công 83,3%. Tỷ lệ tầng dưới gối thấp vì tổn thương ở đây thường dài và phức tạp chủ yếu là hình thái tổn thương TASC D.
Về hiệu quả lâm sàng cho thấy triệu chứng đau chi dưới sau can thiệp giảm so với trước can thiệp có ý nghĩa thống kê; hiệu quả về mặt huyết động thể hiện bằng sự thay đổi của huyết áp tâm thu cổ chân và chỉ số ABI, cho thấy sau can thiệp chỉ số này tăng hơn so với trước can thiệp có ý nghĩa thống kê.
Đối với tai biến và biến chứng trước và sau can thiệp, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ chung là 10,6% trong đó tụ máu tại chỗ chọc động mạch, bóc tách thành động mạch, tắc động mạch đoạn xa, thông động tĩnh mạch; suy thận cấp mỗi loại tai biến chỉ có một ca; đối với biến chứng chảy máu ổ bụng, xuất huyết tiêu hóa có 2 ca. Không có trường hợp nào tử vong do các biến chứng đều được phát hiện và xử trí kịp thời.
Theo dõi tái hẹp sau can thiệp nội mạch, có 47/89 vị trí can thiệp/bệnh nhân được theo dõi; 39 bệnh nhân khác không tới tái khám. Kết quả sau 12 tháng không có trường hợp nào tái hẹp tại vị trí động mạch chậu; sau can thiệp 6 tháng, 12 tháng tỷ lệ tái hẹp tại động mạch đùi – khoeo là 2,6% và 23,3%; tái hẹp ở dưới gối là 13,6% sau 6 tháng và 46% sau 12 tháng.
Tác giả nghiên cứu có kết luận qua nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của kỹ thuật can thiệp nội mạch trên bệnh nhân được chẩn đoán bệnh động mạch chi dưới mạn tính là 90%; sau can thiệp 12 tháng, không gặp trường hợp nào tái hẹp tại tầng chậu; tỷ lệ tái hẹp tầng động mạch đùi – khoeo và dưới gối tương đối cao.
Chúng ta biết rằng, bệnh động mạch chi dưới mạn tính chỉ tình trạng một phần hoặc toàn bộ chi dưới không được cung cấp đầy đủ máu đáp ứng nhu cầu hoạt động sinh lý của chi thể, bệnh gây ra bởi các bệnh lý động mạch mạn tính. Bệnh có biểu hiện lâm sàng gồm không có triệu chứng; cơn đau cách hồi ở chi dưới; ở giai đoạn muộn bệnh gây hoại tử và mất tổ chức. Điều trị bệnh động mạch chi dưới mạn tính ngoài việc thay đổi lối sống, tập luyện, điều chỉnh các yếu tố nguy cơ, sử dụng thuốc nhằm giảm sự phát triển của mảng xơ vữa, phòng tránh các biến cố tim mạch thì tái thông động mạch bị hẹp, tắc bằng phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch vẫn là mục tiêu điều trị cơ bản. Trước khi có kỹ thuật can thiệp nội mạch thì người bệnh được phẫu thuật bắc cầu nối hoặc bóc nội mạc động mạch. Từ năm 1980, y học hình thành và phát triển phương pháp điều trị tái thông động mạch bị hẹp, tắc bằng can thiệp nội mạch. Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm như thủ thuật nhẹ nhàng, chỉ cần gây tê tại chỗ, có thể tiến hành nhiều lần trên người bệnh cao tuổi. Đặc biệt những năm gần đây, nhờ sự phát triển của dụng cụ can thiệp đã càng làm tăng thêm tỷ lệ thành công của thủ thuật, giảm tỷ lệ tái hẹp sau can thiệp. Tại Việt Nam việc nghiên cứu và thực hiện điều trị bệnh động mạch chi dưới bằng phương pháp can thiệp chưa được rộng rãi.
Quốc Nguyên
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 169

Số lượt truy cập: 9370292

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang