{1}
##LOC[OK]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
{1}
##LOC[OK]##
##LOC[Cancel]##
Trang chủ
Văn bản pháp luật
Văn bản Sở Y tế
Thủ tục hành chính
Danh mục TTHC của Sở Y tế
Cơ sở thực hành đào tạo
Văn kiện - Tài liệu
Hỏi/Đáp
Giới thiệu
Giới thiệu chung
Cơ cấu tổ chức
Chức năng, nhiệm vụ
Quy hoạch phát triển Y tế
Thành tựu
Quá trình hình thành và phát triển
Quản lý lĩnh vực Y tế
Lĩnh vực Y
Lĩnh vực Dược
An toàn vệ sinh thực phẩm
Dân số KHHGĐ/SKSS
Bảo hiểm Y tế
Kết quả thủ tục hành chính
Giải quyết khiếu nại, tố cáo
Thống kê Y tế
Xã hội hóa Y, Dược tư nhân
Phòng chống dịch
Bảo trợ - Xã hội
Thông tin hành nghề
Hành nghề Y tư nhân
Hành nghề Dược tư nhân
An toàn vệ sinh thực phẩm
Tin tức - sự kiện
Y tế cơ sở
Chương trình mục tiêu
Đào tạo
Nghiên cứu khoa học
Giáo dục sức khỏe
Mô hình, sáng kiến, kinh nghiệm
Cải cách hành chính
Danh mục TTHC SYT
Quy định, Chỉ đạo, Đề án
Chương trình, Kế hoạch
Tin bài, hoạt động
Báo cáo, thống kê, xếp hạng
Chuyển đổi số ngành Y tế
Nâng lực cạnh tranh (PCI)
Gương điển hình tiên tiến
Chỉ số phục vụ của SYT
Dự án đầu tư, mua sắm
Dự án
Thông tin đấu thầu
Mua sắm
Tuyên truyền VBQL-PL
Văn bản QPPL Nhà nước
Văn bản QPPL Y tế
Văn bản Sở Y tế
Công tác khác
Văn thư lưu trữ
Công khai ngân sách
Hệ thống QLCL TCVN 9001:2008
Lịch công tác tuần
Dân hỏi
Điều động, bổ nhiệm
Liên kết website
Chọn website
Thu thập số liệu mắt hột
Chỉnh phủ
Tỉnh Khánh Hoà
Sở Giáo Dục
Cục Y tế dự phòng
Cục Quản lý Khám chữa bệnh
Cục xúc tiến thương mại
Thị trường nước ngoài
Thương mại điện tử
Báo Người lao động
Báo Thanh niên
Sử dụng năng lượng tiết kiệm
Sở Kế Hoạch Đầu Tư
BQL Khu Kinh Tế Vân Phong
Đề tài khoa học
Điều trị thiếu máu cục bộ cơ tim bằng sóng xung kích
[Đăng ngày: 29/12/2015]
Tại hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, tác giả Lê Duy Thanh cùng cộng sự Viện Tim Quân đội, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, báo cáo nghiên cứu “Đánh giá kết quả bước đầu của điều trị thiếu máu cục bộ cơ tim bằng sóng xung kích”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5/2013 đến tháng 5/2014, có 20 bệnh nhân hẹp đa thân động mạch vành không phù hợp với can thiệp hoặc phẫu thuật bắc cầu vành hoặc bệnh nhân còn đau ngực sau khi đã tái thông động mạch vành bằng can thiệp hoặc phẫu thuật bắc cầu được mời tham gia nghiên cứu.
Phác đồ điều trị liều chuẩn là phát xung vào vùng cần điều trị với liều không quá 300 xung cho một vùng thiếu máu với mức năng lượng 0,09 mJ/mm2. Quy trình điều trị được nhắc lại 3 lần/tuần vào tuần đầu tiên của mỗi tháng, trong vòng 3 tháng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 20 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 18 nam, 2 nữ, tuổi trung bình là 78,5; bệnh nhân không can thiệp tim mạch 16 người; có 2 bệnh nhân can thiệp mạch vành qua da và 2 bệnh nhân phẫu thuật bắt cầu. Về đặc điểm lâm sàng, 20/20 bệnh nhân có triệu chứng đau ngực; tăng huyết áp có 18 bệnh nhân, rối loạn chuyển hóa lipit 16 bệnh nhân, đái tháo đường có 13 bệnh nhân, nhồi máu cơ tim có 12 bệnh nhân. Bệnh nhân có tổn thương đa thân động mạch vành chiếm 90%, còn lại là hẹp thân chung động mạch vành.
Theo BS Lê Duy Thanh, 20 bệnh nhân tham gia nghiên cứu có triệu chứng đau ngực điển hình dai dẳng mặc dù đã điều trị tối ưu bằng thuốc hoặc đã sử dụng biện pháp can thiệp động mạch vành qua da hoặc bắc cầu vành. Hệ thống động mạch vành đảm nhiệm chức năng cung cấp máu cho tim, hầu hết các tổn thương động mạch vành là tổn thương phức tạp. Với 90% bệnh nhân tổn thương đa thân động mạch vành trong nghiên cứu còn ghi nhận tỷ lệ khuyết xạ có hồi phục 85%; tỷ lệ khuyết xạ kết hợp là 15%. Phần lớn khuyết xạ là mức độ nặng và diện rộng.
Sau 3 tháng điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng cơn đau ngực, thời gian cơn đau, mức độ cơn đau, theo phân loại của Hiệp hội Tim mạch Canada, mức độ sử dụng viên Nitrat trong tuần đều giảm hơn so với trước điều trị (p<0,05). Các triệu chứng khó thở, mức độ suy tim, thời gian gắng sức được cải thiện rõ rệt so với trước điều trị. Có 16 bệnh nhân mức độ cơn đau từ CCS III xuống II và 4 bệnh nhân từ CCS IV xuống III. Tác giả nghiên cứu lý giải có được kết quả như vậy là do cơ chế giãn mạch và tăng sinh tân tạo mạch máu của điều trị bằng sóng xung kích.
Đối với các thông số trên siêu âm tim về kích thước nhĩ trái và thất trái (LAd, Dd, Ds, EDV, ESV) đều giảm có ý nghĩa ở nhóm điều trị bằng sóng xung kích so với trước điều trị. Các thông số siêu âm tim về huyết động (EF%, SV, CO) đều tăng có ý nghĩa ở nhóm có điều trị bằng sóng xung kích. Điểm rối loạn vận động thành tim cải thiện nhiều so với trước điều trị. Kết quả xạ hình tưới máu cơ tim cho thấy tổng số điểm tưới máu khi gắng sức và tổng số điểm tưới máu khi ghi ở nhóm điều trị thiếu máu cơ tim bằng sóng xung kích đều cải thiện rõ rệt so với trước điều trị.
Tác giả nghiên cứu cũng báo cáo trong quá trình điều trị bằng sóng xung kích có một số bệnh nhân có ngoại tâm thu thất và ngoại tâm thu nhĩ thưa, sau đó tự hết khi kết thúc quá trình bắn xung.
Nghiên cứu không ghi nhận các tác dụng phụ khác, không ảnh hưởng đến tế bào máu và cơ quan tạo máu cũng như chức năng gan thận trong suốt đợt điều trị; điều này cho thấy điều trị thiếu máu cơ tim bằng sóng xung kích trong bệnh mạch vành an toàn.
Chúng ta biết rằng, bệnh mạch vành, bệnh tim do mạch vành, bệnh tim thiếu máu cục bộ và cả những cụm từ như suy vành, thiểu năng vành là những cụm từ khác nhau để chỉ tình trạng động mạch vành bị hẹp do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chủ yếu là do xơ vữa động mạch. Khi lòng động mạch vành bị tắc nghẽn có thể gây bệnh cảnh nhồi máu cơ tim và dẫn đến tử vong. Năm 2014, ở châu Âu bệnh động mạch vành là nguyên nhân gây ra 1,6 triệu ca tử vong/năm. Mỗi năm theo ước tính thế giới có gần 6 triệu trường hợp mắc bệnh mạch vành mới. Hiện nay có 3 phương pháp điều trị bệnh mạch vành gồm: điều trị nội khoa bằng thuốc thông thường và thuốc tiêu sợi huyết; mổ bắc cầu chủ vành và can thiệp động mạch vành qua da. Mục đích của các phương pháp là khôi phục lại tuần hoàn mạch vành bị tổn thương hẹp hoặc tắc, từ đó duy trì và bảo tồn chức năng tim và giảm tỷ lệ tử vong cho người bệnh. Tuy nhiên, thực tế vẫn có tỷ lệ lớn bệnh nhân vẫn còn triệu chứng đau ngực sau khi tái thông động mạch vành hoặc không thể phẫu thuật. Vì vậy, điều trị thiếu máu cơ tim bằng sóng xung kích là một phương pháp điều trị mới hỗ trợ cho các phương pháp trước đó.
Cơ chế điều trị thiếu máu cơ tim bằng sóng xung kích là một can thiệp không xâm lấn. Sóng xung kích (Shock wave) là một dạng sóng âm thanh tương tự như sóng siêu âm có năng lượng. Chúng có biên độ áp lực cao, độ rộng xung nhỏ và tăng thời gian xung ngắn. Khi bắn các sóng xung kích vào vùng thiếu máu ngay lập tức gây giãn mạch và giảm đau vì tế bào nội mô giải phóng NO từ L-arginin bởi enzyme NO synthases. NO có tác dụng giảm bám dính bạch cầu vào thành mạch, giảm tăng sinh các tế bào cơ trơn và tái cấu trúc thành mạch; ức chế ngưng kết tiểu cầu và hình thành huyết khối thành mạch. Sau đó NO đến tế bào cơ trơn mạch máu gây giãn mạch; ức chế sự co thắt mạch máu, thúc đẩy quá trình tái tạo collagen ở nội mô mạch máu.
Minh Tâm
Chi tiết
Các tin khác
29/12/2015:
Mối liên quan giữa rối loạn nhịp tim với tổn thương động mạch vành
27/12/2015:
Điều trị bệnh động mạch chi dưới bằng can thiệp nội mạch
27/12/2015:
Xét nghiệm hs-Troponin T ở bệnh nhân suy tim mạn mất bù cấp
27/12/2015:
Nghiên cứu điều trị suy tim bằng NT-ProBNP
19/12/2015:
Nồng độ estradiol phụ nữ mãn kinh và bệnh mạch vành
19/12/2015:
Nồng độ NT-proBNP trên bệnh nhân hẹp van hai lá
19/12/2015:
Tỷ lệ TG/HDL-C ở bệnh nhân động mạch vành
19/12/2015:
Đánh giá lâm sàng, cận lâm sàng nhồi máu cơ tim cấp
19/12/2015:
Đánh giá nguy cơ xuất huyết ở bệnh nhân hội chứng vành cấp bằng thang điểm
18/12/2015:
Phẫu thuật nội soi điều trị đầu nước ở trẻ em
Tìm kiếm
Văn bản Sở Y tế
THỜI TIẾT
Nha Trang
Hồ Chí Minh
Hà Nội
Đà Lạt
Đà Nẵng
Thừa Thiên Huế
Độ ẩm:
Gió:
Thống kê online
Đang online:
169
Số lượt truy cập:
9370292
SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa