
Tăng huyết áp là một bệnh lý ngày càng phổ biến ở các quốc gia, là nguyên nhân dẫn đến tử vong hoặc tàn phế vì các biến chứng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thận. Từ năm 2003, thuật ngữ “tiền tăng huyết áp” được đề cập như một thể mới của bệnh tăng huyết áp. Các nghiên cứu đã cho kết quả nhóm người có tiền tăng huyết áp có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người có huyết áp tối ưu. Nếu tiền tăng huyết áp được đánh giá sớm sẽ giảm đi gần 4% tỷ lệ nhập viện, giảm 6,5% tỷ lệ điều trị tại nhà và giảm 9% tỷ lệ tử vong. Tiền tăng huyết áp giúp dự đoán tăng huyết áp trong tương lai, từ dó có hướng điều trị dự phòng nhất là thay đổi lối sống để phòng chống nguy cơ tăng huyết áp.
Tại Hội nghị Khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức tháng 12/2015, nhóm nghiên cứu Dương Thị Thùy Linh, Nguyễn Tá Đông và Lê Thị Bích Thuận - Bệnh viện Trung ương Huế báo cáo nghiên cứu “Mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc tổn thương cơ quan đích với trị số huyết áp ở bệnh nhân tiền tăng huyết áp”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 05/2013 đến tháng 8/2014, có 58 bệnh nhân tiền tăng huyết áp và 43 bệnh nhân tăng huyết áp tham gia nghiên cứu, những trường hợp tăng huyết áp thứ phát, tăng huyết áp đang điều trị ổn định hoặc mắc thêm các loại bệnh lý tim mạch khác không mời tham gia nghiên cứu. Về phân độ tiền tăng huyết áp ở người trên 18 tuổi, tiền huyết áp giai đoạn 1 có huyết áp tâm thu từ 120-129 mmHg hoặc huyết áp tâm trương từ 80-84 mmHg, tiền tăng huyết áp giai đoạn 2 có tăng huyết áp tâm thu từ 130-139 mmHg hoặc huyết áp tâm trương từ 85-89 mmHg. Đối với tiêu chuẩn chẩn đoán tiền đái tháo đường nghiên cứu sử dụng xét nghiệm HbA1C từ 5,7 đến 6,4%.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình nhóm đối tượng tiền tăng huyết áp (58 người) là 57,9, huyết áp tâm thu trung bình là 130,74 mmHg; huyết áp tâm trương trung bình là 82,03 mmHg. Chỉ số khối cơ thể trung bình nhóm tiền tăng huyết áp thấp 23,01 kg/m2, các chỉ số glucose máu HbA1c, axit uric, GGT, hsCRP chỉ có xét nghiệm hsCRP là 1,98 mg/l còn lại trong giới hạn bình thường. Đánh giá chức năng thận nhóm bệnh nhân tiền tăng huyết áp vẫn được bảo tồn, tuy nhiên đã có tổn thương vi thể của cầu thận thể hiện qua chỉ số micro-albumin niệu là 6,64mg/l. Khảo sát nguy cơ mắc tăng huyết áp thật sự ở nhóm đối tượng tiền tăng huyết áp cho thấy các yếu tố tuổi, hút thuốc lá, lạm dụng rượu và tăng LDL-C là những yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh (p<0,05).
Theo nhóm tác giả nghiên cứu, tiền tăng huyết áp đã được xác định là giai đoạn sớm của bệnh tăng huyết áp, theo các nghiên cứu trong và ngoài nước, tỷ lệ tích lũy tăng huyết là nhóm bệnh nhân tiền tăng huyết áp sau 5 năm đến 31%, tiền tăng huyết áp tăng lên ở nhóm 40 tuổi sau đó giảm dần, còn tăng huyết áp thì tăng liên tục theo tuổi. Các nghiên cứu cũng cho thấy nhóm tiền tăng huyết áp có xét nghiệm nồng độ TC, LDL-C và Triglyceride cao hơn và nồng độ HLD-C thấp hơn so với nhóm có huyết áp bình thường.
Đối với sự thay đổi của buồng tim trái, giai đoạn tiền tăng huyết áp cũng có sự tiến triển theo trị số huyết áp, cụ thể ở giai đoạn tiền tăng huyết áp đã có sự tăng chiều dày cơ tim buồng tim trái.
Về tương quan giữa các yếu tố nguy cơ tim mạch và các trị số huyết áp một nghiên cứu của bác sỹ Lê Thị Minh Trang - Đại học Y dược Huế năm 2014 đã chỉ ra mối tương quan giữa huyết áp tâm thu và TC theo phương trình tuyến tính Y= 1,82X+123,8 – Huyết áp tâm thu phụ thuộc theo TC. Còn một nghiên cứu khác tại Nhật Bản cho thấy huyết áp tâm thu tăng lên khi chỉ số khối cơ thể tăng ở cả nam, nữ. Các yếu tố tuổi, áp lực mạch, TC và LDL-C có ảnh hưởng lên sự tăng huyết áp.
Trong nghiên cứu của Dương Thị Thùy Linh, tác giả cho thấy trong 19 yếu tố đưa ra khảo sát, thì chỉ số khối cơ thể BMI, creatinin, GGT, micro-albumin niệu, HbA1C, IVSd và LVDd là các yếu tố độc lập, có ý nghĩa dự đoán huyết áp tâm thu (p<0,05). Trong các yếu tố này BMI, creatinin, GGT, micro-albumin niệu có giá trị tiên đoán dương, các chỉ số HbA1C, IVSd và LVDd có giá trị tiên đoán âm.
Đối với huyết áp tâm trương, chỉ có UA và micro-albumin niệu là yếu tố độc lập có ý nghĩa dự đoán huyết áp tâm trương (p<0,01), trong đó, micro-albumin niệu có giá trị tiên đoán dương, UA có giá trị tiên đoán âm. Đối với huyết áp trung bình các yếu tố tiên đoán độc lập là BMI, axit uric, GGT, micro-albumin niệu, HbA1C, IVSd và LVDd.
Bs Thùy Linh kết luận nghiên cứu những bệnh nhân tiền tăng huyết áp có nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch và đã có ảnh hưởng lên cơ quan đích. Các yếu tố tiên đoán độc lập ảnh hưởng đến huyết áp tâm thu và huyết áp trung bình hơn là huyết áp tâm trương.
Lâm Quyên