
Tại Hội nghị khoa học Tim mạch miền Trung Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015, nhóm nghiên cứu Lê Xuân Túy và Hoàng Anh Tiến – Đại học Y Dược Huế đã báo cáo “Nghiên cứu sự biến đổi nồng độ NT-ProBNP huyết tương trước và sau can thiệp động mạch vành qua da”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4/2013 đến tháng 6/2014, có 45 trường hợp nhập viện, được chụp mạch và can thiệp động mạch vành qua da tại Đơn vị tim mạch Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng tham gia nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong số 45 đối tượng nghiên cứu có 28 nam và 17 nữ; tuổi trung bình ở nam giới là 62,86 và nữ giới là 66,41 tuổi. Đặc điểm sinh hóa men tim, nồng độ trung bình của men CK-MB ở nam là 36,55 cao hơn so với nhóm nữ là 34,18; nồng độ trung bình của Troponin T ở nam giới là 1,22 cao hơn so với nhóm nữ là 0,74. (Creatine kinase là một enzyme xúc tác cho phản ứng biến creatine thành phosphocreatine với sự tham gia của một phân tử ATP. Phân tử creatine kinase do 2 chuỗi polypeptide có nguồn gốc khác nhau tổ hợp tạo thành, đó là chuỗi M có nguồn gốc cơ (musle) và chuỗi B có nguồn gốc não (brain). Vì vậy, CK có 3 isoenzyme là CK-MM, CK-MB và CK-BB)
Theo nhóm nghiên cứu, nồng độ trung bình chung của NT-ProBNP trước can thiệp là 1480,18 pg/ml cao hơn sau can thiệp 30 ngày có kết quả là 1337,81pg/ml; nhưng nếu so với thời điểm sau can thiệp 72 giờ lại thấp hơn; nồng độ NT-ProBNP sau 72 giờ can thiệp là 1964,59pg/ml. Tác giả nghiên cứu giải thích điều này có thể do sau can thiệp trong khoảng thời gian 24-72 giờ có sự tổn thương hệ thống mạch vành tim nên chỉ số NT-ProBNP đã gia tăng cao hơn so với trước can thiệp; sau 30 ngày can thiệp chỉ số này giảm đáng kể so với trước can thiệp.
Đối với nồng độ trung bình chung NT-ProBNP ở nam và nữ không khác biệt nhau nhiều, tuy nhiên theo bác sĩ Lê Xuân Túy nếu xét nồng độ trung bình chung của NT-ProBNP ở thời điểm sau can thiệp 72 giờ và sau can thiệp 30 ngày có sự khác biệt ở giới nữ và tổng cả hai giới nam và nữ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05).
Tác giả nghiên cứu cũng báo cáo nhận thấy nồng độ NT-ProBNP có sự gia tăng theo độ tuổi, tuổi càng cao thì nồng độ NT-ProBNP càng gia tăng theo. Cụ thể như ở nhóm 45-54 tuổi, nồng độ trung bình chung của NT-ProBNP huyết tương trước can thiệp là 183,03pg/ml thấp hơn so với nhóm ≥ 65 tuổi là 2522,77pg/ml. Sau can thiệp 30 ngày, nồng độ này ở nhóm 45-54 tuổi giảm còn 155,18 pg/ml, còn nhóm ≥ 65 tuổi là 1337,81 pg/ml. Tác giả nghiên cứu nhấn mạnh nồng độ NT-ProBNP giảm sau can thiệp và đây là chất chỉ điểm sinh học quan trọng để đánh giá sự cải thiện sau can thiệp. Điều này hoàn toàn phù hợp với sinh lý tự nhiên, khi tuổi càng cao các bệnh lý mạn tính đi kèm trong đó suy giảm dần chức năng tim, điều này được thể hiện bằng hình ảnh thành cơ tim dày lên, giãn ra đã kích thích làm tăng nồng độ NT-ProBNP huyết tương. Một nguyên nhân nữa là chức năng thận ở người lớn tuổi cũng suy giảm, một số loại thuốc sử dụng điều trị bệnh tim mạch như ức chế men chuyển, thuốc chẹn bêta, thuốc ức chế thụ thể và thuốc lợi tiểu cũng góp phần ảnh hưởng đến tình trạng gia tăng nồng độ NT-ProBNP.
Tác giả nghiên cứu cũng nhấn mạnh nồng độ NT-ProBNP có mối tương quan nghịch với chức năng tâm thu thất trái và được đề xuất là công cụ chẩn đoán và là chất chỉ điểm sinh học có giá trị tiên lượng ở bệnh nhân suy tim. Để đánh giá suy tim có nhiều khuyến cáo nên sử dụng xét nghiệm BNP và NT-ProBNP; chức năng tâm thu thất trái trên siêu âm tim rất hữu ích trong việc xác định những bệnh nhân có tiên lượng xấu. Thực tế siêu âm tim là tiêu chuẩn vàng để phát hiện việc giảm chức năng tâm thu thất phải, còn xét nghiệm nồng độ NT-ProBNP huyết tương là một lựa chọn tốt đối với việc theo dõi chức năng tâm thu thất trái đối với những người có bệnh nhưng không có triệu chứng.
Tác giả nghiên cứu cũng đã đưa ra kết luận cho nghiên cứu là có sự gia tăng nồng độ NT-ProBNP huyết tương tỷ lệ thuận với tổn thương số nhánh mạch vành trước can thiệp, sau can thiệp 72 giờ và sau can thiệp 30 ngày. Trong mỗi nhánh tổn thương, sự thay đổi nồng độ NT-ProBNP có sự suy giảm trước và sau can thiệp.
Chúng ta biết rằng, bệnh động mạch vành là bệnh mạn tính phổ biến và đe dọa tính mạng của người bệnh. Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã chứng minh có mối liên quan chặt chẽ, độc lập giữa nồng độ NT-ProBNP huyết tương và tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân mắc bệnh động mạch vành. Ngoài ra BNP và NT-ProBNP được xem như là yếu tố tiên lượng của bệnh suy tim và hội chứng mạch vành cấp cũng như bệnh động mạch vành ổn định.
Hiện nay điều trị bệnh động mạch vành có ba phương pháp chính là điều trị nội khoa, can thiệp mạch vành và phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành. Phương pháp can thiệp động mạch vành qua da được xem là biện pháp hiệu quả và được áp dụng tại nhiều Bệnh viện trong toàn quốc./.
Văn Hanh