
Từ tháng 01/2013 đến tháng 9/2015, ThS.BS Phạm Công Nhựt – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã tiến hành nghiên cứu “Kết quả bước đầu và sau 3 tháng theo dõi nong van động mạch phổi bằng bóng qua da trên bệnh nhân hẹp van động mạch phổi”.
Theo ThS.BS Phạm Công Nhựt đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân được chẩn đoán hẹp van động mạch phổi có tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân hẹp tại van động mạch phổi có chênh áp qua van > 50mmHg hoặc > 30 mmHg mà có triệu chứng lâm sàng của rối loạn chức năng tim phải. Tiêu chuẩn loại trừ: Hẹp dưới van động mạch phổi, hẹp nặng trên van động mạch phổi, thiểu sản nặng vòng van động mạch phổi, thiểu sản nặng lá van động mạch phổi, tuần hoàn mạch vành phụ thuộc thất phải, tật tim phối hợp khác cần phẫu thuật, nhiễm trùng huyết hay đang nhiễm trùng nặng.
Các bước tiến hành gồm chuẩn bị bệnh nhân, thực hiện thủ thuật và bước theo dõi bệnh nhân sau khi thông tin can thiệp. Đối với thực hiện thủ thuật sau khi vệ sinh vùng bẹn hai bên, chích tĩnh mạch đùi, luồn sheath 5F. Đưa Pitail 4F hoặc 5F có marker và dây dẫn thường (standard wire) hoặc guide ái nước (Terumo wire) vào thất phải. Đo áp lực thất phải. Chụp hình buồng thất phải. Tư thế chụp: biplane (view trước sau: LAO 15o, cranial 35o và view lateral). Lượng cản quang: 1-2ml/kg, thời gian chụp 1-2 giây. Ghi nhận hình dạng và đo kích thước động mạch phổi (dưới van, vòng van và trên van). Chi nhận những sang thương phối hợp.
Chọn bóng Tyshak kích thước gấp 1.2-1.25 lần so với kích thước vòng van động mạch phổi. Chiều dài của bóng là 20mm cho trẻ sơ sinh và nhũ nhi, 30mm cho trẻ em và 40mm cho thanh thiếu niên và người lớn. Đưa ống thông MP 5F + guide terumo theo đường TM lên động mạch phổi. Qua van động mạch phổi bằng các dây dẫn có kích thước thích hợp (dây dẫn can thiệp 0.014”, 0.018”). Sau đó thay bằng dây dẫn amplatz hoặc giữa nguyên các dây dẫn này tùy theo kích cỡ của bóng nong. Đưa bóng Tyshak vào nong van động mạch phổi. Bơm bóng nong bằng bộ bơm bóng áp lực cao. Áp lực nong bóng có thể từ 2-8.5 atm tùy theo loại bóng. Có thể nong nhiều lần (1-4 lần) để đạt được hiệu quả mong muốn (khi không còn thấy eo). Thời gian mỗi lần nong càng ngắn càng tốt (khoảng 5-60 giây). Sau mỗi lần nong, nên kéo bóng xuống khỏi buồng tống thất phải, tránh gây co thắt buồng tống thất phải. Đưa ống thông MP lên lại động mạch phổi để đo chênh áp lực giữa động mạch phổi và thất phải để đánh giá kết quả.
ThS.BS Phạm Công Nhựt cho biết kết quả nghiên cứu có 24 bệnh nhân được nong van động mạch phổi bằng bóng qua da như sau: Tỷ lệ nam gặp nhiều hơn nữ, tuổi trung bình 42 ± 65 tháng nhỏ nhất là 1 ngày tuổi, cân nặng trung bình: 12 ± 8 kg nhỏ nhất là 3kg. Triệu chứng lâm sàng tím lúc nghỉ chiếm tỷ lệ 12,5%. Nhịp tim trung bình: 117 ± 19 l/p. Dung tích hồng cầu: 35,32 ± 2,78%. Áp lực trung bình thất phải tâm thu và chênh áp tối đa qua van động mạch phổi (ĐMP) trước và sau nong giảm lần lượt là 71,5 ± 24 xuống 44 ± 20 mmHg, 43 ± 19 xuống 18,9 ± 8mmHg và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P ≤ 0,001. Tỷ lệ ác biến chứng nặng 0%.
BS. Nhựt đã cho biết nong van động mạch phổi bằng bóng là một phương pháp điều trị an toàn và cho kết quả hữu hiệu trong điều trị hẹp van động mạch phổi trong giai đoạn sớm. BS. Nhựt đề nghị trong thời gian đến cần đầu tư nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và theo dõi dài hạn để có những tổng kết kinh nghiêm chặt chẽ, nhiều vấn đề hơn.
Chúng ta biết rằng hẹp van động mạch phổ là tổn thương thực thể bẩm sinh gây nghẽn đường máu lên phổi. Tổn thương có thể tại van, dưới van hay trên van, nơi các nhánh. Bệnh được phát hiện từ thế kỷ thứ XVIII do Morgagni (1967). Các tác giả sau đó đã triển khai các thể bệnh lý khác nhau như Meckel, Fallot và Brock vào 1950 được xem như tác giả tiên phong trong kỹ thuật phẫu thuật hẹp van ĐMP. Van ĐMP gồm ba lá hình tổ chim như van động mạch chủ: lá trước và 2 lá sau phải và trái. Nguyên nhân hẹp van ĐMP gồm nhiều giả thuyết: viêm nội tâm mạc bào thai hay ngừng phát triển phần xa của bulbus cordis. Ngoài ra một số tác giả nêu bằng chứng về yếu tố gia đình di truyền học liên quan đến nhiễm sắc thể X.
Phân loại hẹp van ĐMP theo sinh lý bệnh: hẹp nhẹ nếu chênh áp tâm thu < 40 mmHg – áp lực thất phải ≤ 1/2 áp lực thất trái, hẹp trung bình nếu chênh áp tâm thu > 40 < 80 mmHg – áp lực thất phải > 1/2 áp lực thất trái, hẹp nặng nếu chênh áp tâm thu > 80 mmHg – áp lực thất phải > áp lực thất trái. Điều trị bao gồm: Điều trị nội khoa: trong trường hợp nhẹ, theo dõi mỗi 6 tháng, khảo sát siêu âm theo dõi thất phải, độ phì đại. Cần phòng viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Điều trị phẫu thuật: dành cho một số chỉ định đặc biệt khi thông tim thất bại, các ca hẹp nặng kèm phì đại thất phải, dung tích thất phải kém, thiểu sản vòng van ĐMP hoặc hẹp phểu nặng. Nong van bằng bóng: do Kan thực hiện đầu tiên vào năm 1980 trên chó. Hiện nay khuynh hướng chỉ định can thiệp sớm không đợi đến độ chênh áp 50 mmHg, 30 mmHg là có thể nong van đề phòng phản ứng dày phễu. Kết quả chung rất tốt, tỷ lệ biến chứng thấp.
Hữu Lai