
Không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất là một trong những bệnh tim bẩm sinh phức tạp nhất, và cho đến nay vẫn còn thách thức trong chẩn đoán, điều trị. Chính tính đa dạng của tuần hoàn phổi đã tạo ra sự phức tạp của bệnh. Vấn đề xác định dạng bất thường tuần hoàn phổi trong bệnh lý không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất có thể nói là khâu then chốt để đưa ra chiến lược điều trị.
Siêu âm và chụp mạch là 2 kỹ thuật kinh điển trong chẩn đoán và định hướng điều trị. Siêu âm ưu thế trong đánh giá bất thường trong tim, nhưng hạn chế trong đánh giá bất thường ngoài tim. Chụp mạch ưu thế trong đánh giá bất thường tuần hoàn phổi, nhưng lại là kỹ thuật mang tính xâm lấn với mức nhiễm xạ không ít và cũng có những hạn chế do hiện tượng chồng hình. Nhờ những tiến bộ quan trọng trong kỹ thuật hình ảnh, cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ, đã dần từng bước chứng tỏ được vai trò trong chẩn đoán bệnh lý tim mạch nói chung và các bất thường bẩm sinh tim nói riêng. Cộng hưởng từ đánh giá tim mạch ưu thế ở đặc điểm: không xâm lấn, không nhiễm xạ và độ tương phản hình ảnh rất tốt, nhưng hạn chế nhiều ở khâu thực hiện (phải gây mê và thời gian chụp lâu). Cắt lớp vi tính có thể đánh giá các bất thường trong tim và tỏ ra ưu thế trong đánh giá bất thường ngoài tim, mà cụ thể là tuần hoàn phổi, nhờ không gian quan sát rộng, chất lượng tương phản rất tốt của mạch máu trên hình ảnh, điều kiện tiến hành thường thuận lợi, và một ưu điểm không kém quan trọng, đó là tính không xâm lấn và sự thực hiện rất nhanh của kỹ thuật. Cho nên, bên cạnh kỹ thuật siêu âm không thể thiếu thì kỹ thuật cắt lớp vi tính đang có khuynh hướng được ưa chuộng như là một phương tiện bổ sung có ý nghĩa trong đánh giá bệnh không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất.
Bs CKII Đỗ Tâm Thanh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa từ tháng 01/2010 đến tháng 3/2015 đã tiến hành nghiên cứu “Khảo sát hình thái động mạch phổi trong bệnh không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất trên chụp cắt lớp vi tính MSCT”. Có 35 bệnh nhân tham gia nghiên cứu, các bệnh nhân được phân tích hình ảnh chụp cắt lớp vi tính, xác định lại chẩn đoán. Xác định giải phẫu hệ động mạch phổi (thân động mạch phổi: hiện diện, kích thước; động mạch phổi phải và trái: hiện diện, hợp lưu, kích thước; đo tỷ lệ McGoon và chỉ số Nakata; ống động mạch: hiện diện, kích thước đầu gần và đầu xa; động mạch bàng hệ chủ - phổi: số lượng, nơi xuất phát, kích thước).
Chỉ số Nakata: tổng diện tích thiết diện ngang của động mạch phổi trái và động mạch phổi phải (tính theo mm2) chia cho diện tích da cơ thể (BSA, đơn vị: m2). Đơn vị: mm2/ m2 .
Tỉ số McGoon: tỉ số của tổng đường kính của động mạch phổi phải và động mạch phổi trái ngay trước khi phân nhánh, chia cho đường kính của động mạch chủ xuống ngay mức cơ hoành. Kết quả phân tích hình ảnh do một bác sĩ nhiều kinh nghiệm trong lãnh vực này xác nhận lại.
Mô tả đặc điểm tuần hoàn phổi của mẫu nghiên cứu. Các kết quả được trình bày dưới dạng bảng, biểu. Các biến số định tính được trình bày theo tần suất và tỉ lệ %. Các biến số định lượng được trình bày theo trị số trung bình và độ lệch chuẩn.
Khảo sát sự phù hợp giữa kết quả phẫu thuật và CLVT bằng hệ số Kappa về đặc điểm động mạch phổi và sự phù hợp giữa kết quả chụp mạch DSA và CLVT bằng hệ số Kappa về đặc điểm hiện diện động mạch bàng hệ chủ - phổi.
Theo BS Đỗ Tâm Thanh, cắt lớp vi tính được dùng rất tốt để mô tả nguồn gốc động mạch đến phổi, xác định hình ảnh giải phẫu của động mạch phổi và động mạch bàng hệ chủ - phổi, theo dõi những biến chứng sau mổ và thường được tiến hành trước phẫu thuật triệt để ở trẻ sơ sinh mới được chẩn đoán bệnh không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất, trừ khi đã được thông tim.
Trong các bệnh nhân không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất phổi có thể nhận máu từ các nguồn cung cấp khác nhau. Điều quan trọng đối với CLVT là vẽ bản đồ nguồn gốc cung cấp máu cho mỗi phần của phổi.
CLVT với kỹ thuật 3D VRT có khả năng làm sáng tỏ tất cả ĐMBHCP được thấy trên chụp mạch. Trong CLVT với việc sử dụng các kỹ thuật xử lý khác nhau, toàn bộ số lượng ĐMBHCP với vị trí xuất phát, đường đi, và sự kết nối trong phổi được đánh giá một cách dễ dàng.
Ống động mạch không cho nhánh trước khi nối với các động mạch phổi trung tâm, và có khuynh hướng ít ngoằn ngoèo hơn ĐMBHCP. Có nguy cơ cao hẹp động mạch phổi tại chỗ ống động mạch gắn vào. Ngoài ra chụp CLVT còn có khả năng xác định: bất thường động mạch chủ bụng, bất thường trong tim, bất thường động mạch vành; bất thường tĩnh mạch hệ thống và tĩnh mạch phổi; CLVT có vai trò rộng trong sự đánh giá toàn diện bệnh tim bẩm sinh sau phẫu thuật.
Qua nghiên cứu, BS Đỗ Tâm Thanh đã có kết luận là kỹ thuật cắt lớp vi tính có khả năng phát hiện tất cả các đặc điểm hình thái đa dạng và phức tạp của động mạch phổi và động mạch bàng hệ chủ - phổi có độ tin cậy cao. Biểu hiện ở mức độ phù hợp chặt chẽ (hệ số Kappa > 0,6) với kết quả phẫu thuật về đặc điểm động mạch phổi và với chụp mạch DSA về phát hiện động mạch bàng hệ chủ - phổi. Vì thế, trong bối cảnh lâm sàng nhất định thì cắt lớp vi tính có thể thay thế được chụp mạch DSA, một kỹ thuật tuy rất giá trị trong đánh giá mạch máu nhưng xâm lấn với những nguy cơ nhất định và không phải lúc nào cũng thực hiện được trên mọi đối tượng bệnh nhân. Thông qua nghiên cứu, BS Thanh có kiến nghị chụp cắt lớp vi tính nên được chỉ định rộng rãi để xác định hình thái tuần hoàn phổi, giúp đề ra chiến lược phù hợp nhất cho điều trị bệnh lý không lỗ van động mạch phổi kèm thông liên thất. Ngoài ra cũng cần có thêm những nghiên cứu sâu rộng hơn, có so sánh với siêu âm, chụp mạch DSA theo một quy trình đánh giá chặt chẽ, đạt chuẩn để xác nhận rõ ràng hơn giá trị chẩn đoán của chụp cắt lớp vi tính trong đánh giá tuần hoàn phổi ở bệnh lý này./.
Mai Trang