[Đăng ngày: 16/02/2016]
TS.Huỳnh Văn Thưởng – P.Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã  kết luận điều trị tái hẹp trong stent và tổn thương mạch máu nhỏ bằng bóng phóng thích thuốc Pachitaxel, sau 6 tháng theo dõi kết quả tốt đạt gần 90%, kết quả điều trị ở nhóm đối tượng nghiên cứu không hút thuốc lá, không kèm đái tháo đường tốt hơn so với nhóm có thút thuốc lá, có đái tháo đường; nhóm đối tượng nghiên cứu tổn thương mạch máu nhỏ ưu thế hơn nhóm tái hẹp trong stent.
Tại hội nghị Khoa học Tim mạch miền Trung và Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức vào tháng 12/2015. Ts Huỳnh Văn Thưởng Khoa Tim mạch can thiệp – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã báo cáo nghiên cứu “Tính hiệu quả và an toàn của bóng phủ thuốc Paclitaxel điều trị tổn thương mạch máu nhỏ và tái hẹp trong stent mạch vành”.
Nghiên cứu được thực hiện trên 89 bệnh nhân bị bệnh tim thiếu máu cục bộ do tái hẹp trong stent mạch vành hay tổn thương mạch vành có đường kính nhỏ nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa từ tháng 7/2013 đến tháng 6/2015. Nội dung nghiên cứu nhằm xác định hiệu quả (tái hẹp dưới 50%) của bóng phủ thuốc Paclitaxel điều trị tổn thương mạch máu nhỏ và tái hẹp trong stent mạch vành, xác định tính an toàn (biến cố chính tim mạch) sau 6 tháng điều trị của bóng phủ thuốc Paclitaxel điều trị tổn thương mạch máu nhỏ và tái hẹp trong stent mạch vành.
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong 89 bệnh nhân, tuổi nhỏ nhất là 40, lớn nhất là 89 tuổi, nam giới chiếm gần 72%. Cán bộ viên chức chiếm tỷ lệ gần 60,0%; trong số các yếu tố nguy cơ của đối tượng nghiên cứu tăng huyết áp chiếm tỷ lệ hơn 50%, rối loạn lipit máu gần 50,0%, đái tháo đường 32%, hút thuốc lá 36%. Nếu tính số yếu tố nguy cơ trên một đối tượng nghiên cứu thì 3 yếu tố nguy cơ chiếm gần 25% nhóm nghiên cứu, 4 yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ 15,7%, 2 yếu tố nguy cơ 18%, 01 yếu tố nguy cơ 16,9%; không có yếu tố nguy cơ 25,8%. Số trường hợp tổn thương tái hẹp trong stent là 30 ca (33,7%); số trường hợp tổn thương mạch máu nhỏ là 59 ca (66,3%); Ts Thưởng cho biết thời gian nong bóng thuốc dài nhất là 90 giây, ngắn nhất là 30 giây, áp lực nong bóng thuốc lớn nhất là 20 bar, nhỏ nhất là 6 bar. Sau  nong bóng, kết quả đạt tốt là 88 trường hợp chiếm tỷ lệ gần 99%; có 1 trường hợp bị bóc tách phải đặt stent ngay, sau đó, kết quả tái thông mạch vành tốt.
Theo Ts Thưởng, sau 6 tháng điều trị, kết quả chụp kiểm tra đạt tốt là 80 trường hợp chiếm tỷ lệ gần 90%, có 9 trường hợp kết quả xấu (10%). Phân tích các yếu tố liên quan cho thấy, đối với kết quả điều trị nhóm không có rối loạn lipit máu tốt hơn 2 lần so với nhóm có rối loạn lipit máu; kết quả điều trị tốt giữa nhóm có tăng huyết áp và không có tăng huyết áp khá đồng đều là 91% và 88%. Kết quả điều trị nhóm không có hút thuốc lá kết quả tốt gấp 4 lần so với nhóm có hút thuốc lá. Đối với liên quan giữa các yếu tố nguy cơ, kết quả điều trị đạt tốt của nhóm không có nguy cơ là 23 trường hợp cao hơn gần gấp đôi nhóm đối tượng nghiên cứu có 4 yếu tố nguy cơ chỉ 12 trường hợp, nhóm có 3 yếu tố nguy cơ là 18 trường hợp tốt, nhóm có 2 yếu tố nguy cơ 15 trường hợp tốt.
Đối với mối liên quan giữa loại tổn thương của đối tượng nghiên cứu, kết quả điều trị của nhóm tổn thương mạch máu nhỏ tốt hơn so với nhóm tái hẹp trong stent, ở nhóm đối tượng nghiên cứu được sử dụng bóng phủ thuốc có chiều dài ngắn ≤ 15mm có kết quả tốt hơn so với nhóm đối tượng nghiên cứu sử dụng bóng phủ thuốc có chiều dài lớn hơn 15mm (OR = 1,18; p<0,05); còn đối với đường kính bóng phủ thuốc nhóm  ≤ 2,5mm và nhóm > 2,5mm, sau 6 tháng điều trị kết quả nghiên cứu không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Qua phân tích hồi quy đa biến cho thấy những đối tượng nghiên cứu có yếu tố nguy cơ đái tháo đường và hút thuốc lá có liên quan đến kết quả điều trị, nhóm bệnh nhân đái tháo đường được điều trị bằng bóng phủ thuốc có nguy cơ tái hẹp cao hơn so với những bệnh nhân không có đái tháo đường kèm theo (OR=46,p<0,001); đối với nhóm bệnh nhân có hút thuốc lá điều trị bằng bóng phủ thuốc có nguy cơ tái hẹp cao hơn so với nhóm bệnh nhân không hút thuốc lá (OR=11, p<0,05).
Xem xét biến cố tim mạch sau 6 tháng điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy biến cố tái thông tổn thương đích có 6 trường hợp (6,7%); Nhồi máu cơ tim 2 trường hợp, tử vong do tim 2 trường hợp, không có trường hợp nào có biến cố huyết khối sau can thiệp, có 80 trường hợp (89,8%) không ghi nhận có biến cố tim mạch nào.
Ts Huỳnh Văn Thưởng đã có kết luận điều trị tái hẹp trong stent và tổn thương mạch máu nhỏ bằng bóng phóng thích thuốc Pachitaxel, kết quả tốt gần 90% sau 6 tháng theo dõi, kết quả điều trị ở nhóm đối tượng nghiên cứu không hút thuốc lá, không kèm đái tháo đường tốt hơn so với nhóm có hút thuốc lá, đái tháo đường; nhóm đối tượng nghiên cứu tổn thương mạch máu nhỏ ưu thế hơn nhóm tái hẹp trong stent.
Chúng ta biết rằng hiện nay rất nhiều bệnh nhân bị bệnh lý mạch vành đã được cứu sống và điều trị khỏi nhờ kỹ thuật nong bóng và đặt stent để điều trị những mạch máu bị hẹp hoặc bít tắc hoàn toàn. Vấn đề thường gặp sau thời gian can thiệp là huyết khối sớm hoặc muộn trong stent, bị tái hẹp trong stent, đặc biệt ở những bệnh nhân bị tổn thương những mạch máu có đường kính nhỏ, việc nghiên cứu dùng bóng phủ thuốc chống tái hẹp (DEB); Bóng nong mạch vành với cấu trúc đặc biệt có tẩm thuốc chống tái hẹp là một giải pháp để khắc phục hạn chế trên. Nghiên cứu của Ts Huỳnh Văn  Thưởng là một trong 3 nghiên cứu trên toàn quốc đã được công bố góp phần vào chia sẻ kinh nghiệm sử dụng bóng phủ thuốc trong điều trị bệnh lý mạch vành đem lại sự an toàn và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Nâng cao chất lượng điều trị phẫu thuật cột sống cổ (hình 9)
Cuối năm 2015, Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức hội thảo cột sống quốc tế lần thứ 7 và khóa chuyển giao kỹ thuật phẫu thuật cột sống lần thứ 6. BSCKII Nguyễn Văn Xáng, giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh đã cho biết hội thảo có sự tham gia của nhiều chuyên gia hàng đầu của quốc tế và trong nước báo cáo các nghiên cứu khoa học, chia sẻ kinh nghiệm đồng thời chuyển giao kỹ thuật các phương pháp phẫu thuật cột sống.
Cụ thể như giáo sư Kuniyoshi Abumi đến từ Bệnh viện Chỉnh hình Sapporo, Trung tâm Bệnh lý cột sống Sapporo Hokkaido Nhật Bản báo cáo chuyên đề “Lịch sử và gánh nặng điều trị phẫu thuật cốt hóa dây chằng dọc sau cổ”. Ông chia sẻ bệnh nhân bị bệnh tủy sống cổ do cốt hóa dây chằng dọc sau cổ cần điều trị phẫu thuật – phương pháp phẫu thuật là giải ép lối trước bằng kỹ thuật cắt cốt hóa dây chằng dọc sau cổ. Sự giải ép thực hiện qua lối sau cũng hiệu quả đối với những trường hợp cốt hóa dây chằng dọc sau cổ với độ ưỡn sinh lý cột sống cổ còn tốt. Kỹ thuật lối sau gồm cắt bản sống có hoặc không kèm theo sự cố định và tạo hình bản sống.
TS Tanaka Yasuhisa đến từ Bệnh viện Tohoku Yamagata Nhật Bản chia sẻ chuyên đề“Tư duy điều trị bệnh lý rễ thần kinh cổ”. Theo TS Tanaka, bệnh lý rễ thần kinh cổ là một tình trạng gây ra bởi sự chèn ép rễ thần kinh trong quá trình thoái hóa cột sống cổ. Trên chẩn đoán hình ảnh MRI sẽ thấy được các dấu hiệu chèn ép thần kinh và mô mềm thần kinh. Khác với tủy sống cổ trong bệnh lý tủy cổ, rễ thần kinh bị chèn ép rất ít khi được mô tả qua chẩn đoán hình ảnh MRI. Về triệu chứng bệnh lý rễ thần kinh cổ thường gặp là đau cổ, đau cánh tay và tê các ngón tay một bên. Đau cổ kéo dài thường xuyên là một triệu chứng chìa khóa quan trọng để nhận biết bệnh lý rễ thần kinh cổ với những bệnh lý vùng cổ khác như bệnh lý tủy cổ, bệnh lý khớp vai, hội chứng chèn ép khoang … Test Spurling dương tính là tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán bệnh lý rễ thần kinh cổ. Xác định các rễ thần kinh liên quan là bước quan trọng tiếp theo trong chiến lược điều trị bệnh.
Thông thường bên phía cổ đau, cánh tay đau, ngón tay tê, các cơ có sức cơ yếu … chỉ ra các rễ thần kinh tương ứng liên quan. Theo TS Tanaka, Bệnh viện của ông đã phát triển một hệ thống chỉ số đánh giá đối với bệnh lý rễ thần kinh cổ gồm 4 nội dung: triệu chứng chủ quan của người bệnh, khả năng làm việc hoạt động, chức năng ngón tay và các triệu chứng khách quan. Dựa vào thời gian theo dõi khoảng 4 tháng và số điểm đánh giá của các chỉ số để có chỉ định phẫu thuật. Phương pháp phẫu thuật là giải ép hàn xương lối trước và phẫu thuật mở rộng thám sát lỗ liên hợp lối sau cho kết quả tương đương và đạt kết quả tốt. Đối với phẫu thuật mở rộng lỗ liên hợp lối sau ít xâm lấn là phẫu thuật lựa chọn đầu tiên của bệnh lý rễ thần kinh cột sống cổ - TS Tanaka nhấn mạnh.
TS Yasutsugu Yukawa – Khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Chubu Rosai, Nagoya Nhật Bản báo cáo nghiên cứu “Phẫu thuật tạo hình bản sống mở hai cửa với mảnh chêm lấy từ mấu gai”.
Theo TS TS Yasutsugu tạo hình bản sống là một phẫu thuật nhằm giải ép tình trạng hẹp ống sống nhiều tầng. Từ năm 1995 đến năm 2011, nghiên cứu đã được tiến hành trên 1461 bệnh nhân bị bệnh lý tủy cổ được phẫu thuật bằng kỹ thuật tạo hình bản sống mở hai cửa cải biên và 1002 bệnh nhân được theo dõi trên một năm. Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 64,3, trẻ nhất là 23 tuổi, già nhất là 93 tuổi. Thời gian bệnh khởi phát trung bình là 17,6 tháng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian phẫu thuật trung bình là 76 phút, lượng máu mất trung bình là 62,8 ml; Thời gian theo dõi trung bình là 30,8 tháng.
Mức độ của bệnh lý tủy cổ trước và sau phẫu thuật được đánh giá dựa vào thang điểm JOA (Japanese Orthopedic Association score). Điểm JOA trung bình trước mổ là 10,4; tại thời điểm khảo sát sau cùng là 13,7 điểm. Tỷ lệ phục hồi trung bình là 51,5%; có 941 bệnh nhân (94%) có cải thiện và 49 bệnh nhân không cải thiện, 14 bệnh nhân có triệu chứng nặng hơn. Có 2 trường hợp phải phẫu thuật lần hai do bệnh lý tủy cổ tiến triển sau 5 năm và 10 năm. Nghiên cứu cũng ghi nhận có 7 trường hợp liệt rễ C5 sau phẫu thuật.
Tại hội thảo cột sống quốc tế Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa, PGS TS Võ Văn Thành – Nguyên Chủ tịch Hội nghiên cứu cột sống cổ Á Châu Thái Bình Dương, Chủ tịch Hội cột sống TP Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh hội thảo là cơ hội tuyệt vời dành cho các đồng nghiệp trong nước và quốc tế gặp gỡ, chia sẻ kinh nghiệm, thiết lập tình bằng hữu xây dựng mối quan hệ hợp tác hiệu quả lâu dài và bền vững. Những chia sẻ và cùng thực hiện trên các ca phẫu thuật tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa của các chuyên gia đã giúp nâng cao những kiến thức mới nhất, sự khéo léo kỹ thuật trong phẫu thuật cột sống và công tác chăm sóc bệnh lý cột sống cho các bác sĩ trẻ, qua đó góp phần vào sự tiến bộ của sự nghiệp chăm sóc bệnh lý cột sống tại tỉnh Khánh Hòa và của Việt Nam.
Được biết từ năm 2009, khoa Ngoại cột sống Bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa được thành lập và đã liên tục phát triển, phẫu thuật chăm sóc tốt cho người bệnh đến từ các tỉnh, thành phố lân cận và của tỉnh Khánh Hòa, đến nay khoa Ngoại cột sống đã phẫu thuật hơn 300 trường hợp bệnh lý cột sống đáp ứng tốt niềm tin yêu cho sự mong đợi của người dân tỉnh nhà.
Tường Huân
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 130

Số lượt truy cập: 9369875

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang