
Tại Hội nghị Khoa học Tim mạch miền Trung – Tây Nguyên lần thứ 8 được tổ chức tháng 12/2015, BS.Võ Thị Hà Hoa, Đặng Văn Trí cùng cộng sự Bệnh viện C Đà Nẵng báo cáo nghiên cứu “Giá trị chẩn đoán sàng lọc bệnh tim thiếu máu cục bộ của nghiệm pháp gắng sức so với chụp động mạch vành”.
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 9/2012 đến tháng 9/2014, đối tượng nghiên cứu là chọn ngẫu nhiên các bệnh nhân có cơn đau thắt ngực ổn định kèm theo ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ: Đái tháo đường (ĐTĐ), Rối loạn lipit máu, tăng huyết áp (THA) hoặc đang dùng thuốc hạ áp; Tiền sử gia đình có bệnh mạch vành; hút thuốc lá, béo phì. Các bệnh nhân đã được chụp hoặc can thiệp động mạch vành hoặc đã phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành, bệnh nhân có chống chỉ định nghiệm pháp gắng sức, bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu đều không mời tham gia nghiên cứu.
Nghiệm pháp gắng sức được thực hiện tại Khoa nội tim mạch bằng kỹ thuật thảm lăn gắng sức, máy Health Care – T2100 Mexico.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 176 đối tượng tham gia nghiên cứu, tỷ lệ nam, nữ là 1:1, tuổi trung bình là 59,5. Tỷ lệ các yếu tố nguy cơ gồm rối loạn lipit máu 85,8%; THA chiếm 55,7%; béo phì 44,3%; ĐTĐ 27,3%; hút thuốc là 10,5% và tiền sử gia đình có mắc bệnh mạch vành sớm 6,8%.
Theo BS. Võ Thị Hà Hoa lưu lượng máu cơ tim lúc nghỉ vẫn được bảo toàn mặc dù đường kính mạch máu hẹp đến 95% ở động mạch vành liên quan. Đáp ứng tăng cấp máu bắt đầu giảm dần khi hẹp trên 40% đường kính mạch vành và mất hẳn khi hẹp trên 80%. Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan tỷ lệ thuận chặt chẽ giữa kết quả nghiệm pháp gắng sức giá trị dự báo dương tính 75% với chụp mạch vành dương tính (p<0,01). Tác giả nghiên cứu lưu ý các giá trị chẩn đoán của nghiệm pháp gắng sức cho thấy đây là kỹ thuật không xâm lấn có giá trị chẩn đoán sàng lọc tốt đối với bệnh tim thiếu máu cục bộ với độ nhạy 68,2%, độ đặc hiệu 86,4% và độ chính xác gần 80%. So sánh với một số nghiên cứu trong và ngoài nước cũng có kết quả tương tự, vì vậy nghiệm pháp gắng sức nên được áp dụng rộng rãi ở các Ban bảo vệ chăm sóc sức khỏe cán bộ ở các tỉnh, thành phố vì đây là phương pháp sàng lọc an toàn, không đòi hỏi quá cao về trình độ nhân lực và trang thiết bị y tế, phù hợp với người bệnh thuộc nhóm có nhiều yếu tố nguy cơ, tác giả lưu ý.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ở nữ giới nghiệm pháp gắng sức có độ nhạy cao hơn nam giới (70,6% so với 65,7%) và tỷ lệ âm tính giả của nữ là 29% thấp hơn so với nam giới là 34%, tương tự giá trị dự báo âm tính ở nữ giới cũng cao hơn so với nam giới, như vậy hướng đến có ý nghĩa loại trừ từ bệnh tim thiếu máu cục bộ tốt hơn ở nam giới.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy nghiệm pháp gắng sức có độ đặc hiệu cao ở nhóm bệnh nhân không ĐTĐ so với nhóm bệnh nhân có ĐTĐ kèm theo; đồng thời giá trị dự báo âm tính cũng cao hơn ở nhóm bệnh nhân không có ĐTĐ so với nhóm bệnh nhân có ĐTĐ. Tác giả cho rằng kết quả nghiệm pháp gắng sức âm tính có ý nghĩa loại trừ tốt hơn ở những bệnh nhân không có ĐTĐ kèm theo, còn đối với bệnh nhân có ĐTĐ kèm theo khi nghiệm pháp gắng sức âm tính ít có ý nghĩa loại trừ bệnh tim thiếu máu cục bộ.
Điều này giải thích do bệnh nhân ĐTĐ ngoài tổn thương thượng tâm mạc những bệnh nhân này còn mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ cao hơn so với những bệnh nhân không có ĐTĐ kèm theo mà có cùng mức độ tổn thương động mạch vành thượng tâm mạc. Lý do nữa là do những bất thường ở vi tuần hoàn vành có kèm giảm trữ lượng vành, cơ tim sử dụng ôxy trong tuần hoàn vành với hiệu suất cao nên sự tiêu thụ ôxy ở cơ tim chủ yếu được quyết định bởi lưu lượng vi mạch. Khi có rối loạn chức năng của tiểu động mạch vành, khiếm khuyết cung cấp ôxy cho cơ tim, đặc biệt ở phụ nữ, hội chứng vành X có nghiệm pháp gắng sức dương tính nhưng kết quả chụp động mạch vành bình thường. Bệnh nhân ĐTĐ có dự trữ vành kém hay có ST chênh dưới trong giai đoạn hồi phục sau gắng sức. Còn đối với bệnh nhân có THA, nghiệm pháp gắng sức có độ nhạy 75,6% cao hơn so với nhóm bệnh nhân không có THA (56%), giá trị dự báo dương tính là gần 82%, như vậy nghiệm pháp gắng sức dương tính có giá trị chẩn đoán tốt hơn ở nhóm bệnh nhân THA. Tương tự nghiệm pháp gắng sức dương tính có giá trị chẩn đoán loại trừ tốt hơn ở nhóm bệnh nhân có rối loạn lipit máu. Tác giả nghiên cứu đã có khuyến nghị là nghiệm pháp gắng sức nên được triển khai ở tất cả các bệnh viện để chẩn đoán sàng lọc bệnh tim thiếu máu cục bộ và là một bước cần thực hiện trong quy trình chụp và can thiệp động mạch vành khi bệnh nhân không có chỉ định.
Bệnh tim thiếu máu cục bộ là vấn đề sức khỏe hàng đầu ở các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. Để chẩn đoán sàng lọc sớm bệnh tim thiếu máu cục bộ gồm có các biện pháp thông thường như đánh giá các yếu tố nguy cơ, sử dụng thang điểm Framingham, đo điện tâm đồ lúc nghỉ, cho đến các thăm dò chuyên sâu như nghiệm pháp gắng sức (xe đạp kế hoặc thảm lăn), các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn như chụp MSCT, MRI mạch vành và tiêu chuẩn vàng là chụp động mạch vành chọn lọc để chẩn đoán xác định. Mỗi phương pháp đều có giá trị nhất định và những hạn chế, đòi hỏi phải có trang thiết bị y tế kỹ thuật cao, trình độ kinh nghiệm của bác sỹ, chi phí và Bảo hiểm Y tế. Nghiệm pháp gắng sức là kỹ thuật không xâm lấn dễ áp dụng rộng rãi cho các tuyến y tế và là một bước chẩn đoán sàng lọc tốt trước khi chụp mạch vành.
Hoa Phượng