
Từ tháng 9/2014 đến tháng 5/2015, tác giả Trần Nguyên Dân, Bệnh viện Hòa Bình, Bình Định cùng cộng sự đã nghiên cứu đề tài “Đặc điểm rung nhĩ ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát”.
Mục tiêu nghiên cứu tìm hiểu đặc điểm rung nhĩ và mối liên quan với kích thước nhĩ trái, thể tích nhĩ trái và khối lượng cơ thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát.
Có 209 đối tượng được chẩn đoán tăng huyết áp nguyên phát nhập viện tại khoa Tim mạch, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định được chọn tình nguyện tham gia nghiên cứu, trong đó có 45 bệnh nhân bị rung nhĩ. Đối với những trường hợp tăng huyết áp thứ phát, rung nhĩ có bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh, cuồng nhĩ, bệnh cơ tim giãn, người bệnh có tiền sử nhồi máu cơ tim cấp, bệnh mạch vành cấp, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh nhân bị xơ gan, suy thận, rung nhĩ do cường giáp, nghiện rượu … đều không mời tham gia nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu có rung nhĩ là 76,38 cao hơn nhóm không có rung nhĩ là 63,66. Đối với nhóm bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có rung nhĩ, tuổi từ 60 trở lên là 42/45 bệnh nhân (93,3%). Tỷ lệ nữ giới trong nhóm rung nhĩ là 62,2% cao hơn so với nam giới chỉ 37,8%. Tương tự ở nhóm không có rung nhĩ, tỷ lệ nữ giới cao gần gấp đôi so với nam giới.
Đối với các đặc điểm lâm sàng triệu chứng chính thường gặp bệnh nhân tăng huyết áp được tham gia nghiên cứu đưa ra khảo sát gồm chóng mặt, đau ngực, khó thở, nhức đầu, chảy máu mũi, liệt nửa người các triệu chứng đau ngực, khó thở và liệt nửa người ở nhóm có rung nhĩ có tỷ lệ cao hơn so với nhóm không có rung nhĩ. Theo các nghiên cứu đã công bố trên thế giới, khởi phát rung nhĩ có liên quan với sự tăng tần số nhịp tim. Tần số tim tăng cao liên quan với tăng nguy cơ khởi phát rung nhĩ mới. Cụ thể nguy cơ bị rung nhĩ lớn hơn 15% khi có sự gia tăng mỗi 10 nhịp tim/phút. Trong nghiên cứu của bác sĩ Trần Nguyên Dân, nhóm rung nhĩ đáp ứng tần số thất nhanh chiếm tỷ lệ cao nhất là gần 50%, cao hơn so với nhóm không có rung nhĩ chỉ 31%.
Tác giả nghiên cứu cũng báo cáo đường kính nhĩ trái trung bình của đối tượng nghiên cứu là 32,48 + 5,34 mm, kích thước nhĩ trái lớn chỉ chiếm tỷ lệ 8,6%. Còn đối với nhóm bệnh nhân tăng huyết áp có rung nhĩ: kích thước trung bình của nhĩ trái là 35,84 + 6,3 mm; nhóm tăng huyết áp không rung nhĩ trị số này là 31,55 + 4,6 mm, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,05. Tác giả nghiên cứu đã đưa ra lưu ý các kết quả này khá tương đồng với nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, đó là kích thước nhĩ trái đều lớn ở bệnh nhân tăng huyết áp có rung nhĩ.
Kết quả nghiên cứu của BS Dân cũng cho thấy thể tích nhĩ trái trung bình là 50,08 + 23,4 ml, thể tích nhĩ trái lớn chiếm tỷ lệ gần 28%, lớn nhẹ chiếm 9,1% và lớn vừa chiếm 6,7%. Thể tích trung bình của nhĩ trái ở nhóm rung nhĩ là 71,01 + 30,58ml; ở nhóm không rung nhĩ là 44,33 + 17,1ml (p<0,05). Kết quả ở một số nghiên cứu khác trong nước cũng cho thấy thể tích tối đa nhĩ trái, thể tích nhĩ trái lúc bắt đầu co bóp, thể tích tối thiểu nhĩ trái ở nhóm bệnh nhân tăng huyết áp so với nhóm người bình thường đều tăng (p<0,05). Như vậy có sự gia tăng thể tích nhĩ trái ở bệnh nhân tăng huyết áp có rung nhĩ, tác giả nghiên cứu lưu ý.
BS Trần Nguyên Dân cũng cho biết kết quả nghiên cứu nhận thấy khối lượng cơ thất trái trung bình là 166,38g; tỷ lệ bệnh nhân có khối lượng cơ thất trái lớn chiếm hơn 30%; Trong đó khối lượng cơ thất trái lớn nhẹ chiếm gần 16%, lớn vừa 7% và lớn nặng 7,6%. Khối lượng cơ thất trái trung bình ở nam lớn hơn so với nữ và so sánh với các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả nhận xét – có sự gia tăng khối lượng cơ thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp có hoặc không có rung nhĩ.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ phân suất tống máu giảm với EF < 55% chiếm 23,4%, ở nhóm có rung nhĩ là 37,8% cao hơn nhóm không có rung nhĩ là 19,5%.
Như vậy sự gia tăng kích thước nhĩ trái, thể tích nhĩ trái, khối cơ thất trái có liên quan đến sự suy giảm chức năng tâm thu thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp có rung nhĩ.
Chúng ta biết rằng, tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp, ở bệnh nhân tăng huyết áp có rung nhĩ nguy cơ đột quỵ cao hơn so với người tăng huyết áp không có rung nhĩ. Khi đột quỵ xảy ra ở người tăng huyết áp có rung nhĩ có thể để lại di chứng nặng nề hơn so với nhóm tăng huyết áp không có rung nhĩ. Phần lớn, nguyên nhân rung nhĩ là do tăng huyết áp. Phì đại thất trái ở bệnh nhân tăng huyết áp là một bệnh lý phản ứng dẫn đến rối loạn chức năng tâm trương và tăng nguy cơ rung nhĩ, suy tim tâm trương, tâm thu, suy tim và đột tử ở bệnh nhân tăng huyết áp.
Rung nhĩ cũng làm tăng nguy cơ tai biến mạch máu não lên 3 – 5 lần, suy tim sung huyết lên 3 lần và gia tăng nguy cơ tử vong lên 1,5 – 3 lần. Hiện nay, rung nhĩ và tăng huyết áp là một trong những gánh nặng bệnh tật quan trọng cho sức khỏe cá nhân và cả cộng đồng.
Hữu Cao