
Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất đối với phụ nữ trên thế giới. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư ví dao động từ 11,5-33,7/100.000 dân, lứa tuổi là một yếu tố liên quan đến chẩn đoán, các phương pháp điều trị áp dụng cũng như tiên lượng bệnh ung thư vú.
Nhóm tác giả nghiên cứu Lê Thị Tuyết Nhung, Bệnh viện 198 và Nguyễn Văn Nam Bệnh viện Quân Y 103, Học viện Quân Y đã báo cáo đề tài “Đánh giá kết quả điều trị ung thư vú ở phụ nữ cao tuổi” tại Hội nghị phòng chống ung thư thành phố Hồ Chí Minh tháng 12/2015.
Nghiên cứu được thực hiện trên 99 bệnh nhân ung thư tuyến vú giai đoạn 1,2,3 là nữ giới, trên 60 tuổi, được phẫu thuật Patey tại Bệnh viện K Hà Nội từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2008, theo dõi thời gian 5 năm. Thời gian sống thêm toàn bộ tính từ ngày bắt đầu điều trị đến khi tử vong, chia thành các thời điểm 12,24,36,48, 60 tháng.
Theo phân tích của Bs Lê Thị Tuyết Nhung, trong 99 bệnh nhân được nghiên cứu sau phẫu thuật Patex có 63,6% được điều trị nội tiết, 38,4% bệnh nhân được điều trị hóa chất và 38,4% được điều trị xạ trị.
Về đặc điểm di căn, có 84,8% không di căn. Có 15 trường hợp có di căn não. Tỷ lệ di căn theo dõi trong 5 năm là 15,2% thấp vì đối tượng nghiên cứu ở giai đoạn 1,2 và 3 được phẫu thuật triệt để và điều trị bổ trợ sau phẫu thuật theo phác đồ thống nhất. Đối với kết quả thời gian sống thêm 1 năm chiếm 98,9%, 2 năm chiếm 94,9%; 3 năm chiếm 88,8%. Đây là kết quả khá tốt, tuy nhiên theo tác giả nghiên cứu so với các nghiên cứu ở các nước tiên tiến kết quả này vẫn là rất khiêm tốn.
Bs Tuyết Nhung cũng chia sẻ, nếu kích thước khối u càng tăng, tỷ lệ sống thêm càng giảm, tỷ lệ sống thêm 5 năm tương ứng kích thước u≤2cm là gần 82%; nếu u từ 2-4 cm tỷ lệ giảm còn 65%; u >4cm tỷ lệ giảm ở mức 56%. Tuy vậy, kích thước khối u còn liên quan đến nhiều yếu tố về độ mô học, thể mô bệnh học, di căn hạch nách và các yếu tố khác. Đối với mô bệnh học ung thư biểu mô ống xâm nhập tỷ lệ sống thêm 5 năm là 82%, còn loại ung thư không phải thể ống tỷ lệ sống thêm 5 năm có thể đến 93%.
Đối với những bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính, đáp ứng phác đồ điều trị nội tiết tốt hơn đối với các bệnh nhân có thụ thể nội tiết âm tính. Thụ thể nội tiết là nội yếu tố tiên lượng cho thời gian sống thêm mà không phân biệt với lứa tuổi.
Cụ thể HER2/NEU là thụ thể của yếu tố tăng trưởng biểu bì, khi dương tính sẽ có ý nghĩa tiên lượng xấu, làm giảm thời gian sống thêm.
Một nghiên cứu khác cũng được báo cáo tại Hội nghị là “Đánh giá tác dụng phụ của thuốc nội tiết bậc 2 Letrozole trên người bệnh ung thư vú đã mãn kinh có thụ thể nội tiết dương tính” của tác giả Lê Thị Hoa – Trung tâm Ung bướu bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
Theo cử nhân Lê Thị Hoa, nghiên cứu được tiến hành ở 110 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư vú giai đoạn sớm, đã mãn kinh có thụ thể nội tiết dương tính sau điều trị bằng phẫu thuật, hóa chất, xạ trị và dùng thuốc nội tiết bậc 1, hiện tại đang được điều trị bằng thuốc nội tiết bậc 2.
Theo tác giả nghiên cứu, điều trị nội tiết bệnh nhân ung thư vú hiện nay được cho là có hiệu quả vì mô ung thư vú còn giữ lại được đặc tính nhạy cảm với nội tiết của các mô vú bình thường, những bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính đáp ứng tốt với điều trị nội tiết, tiên lượng tốt hơn, thời gian sống lâu hơn và tỷ lệ tái phát thấp hơn so với nhóm có thụ thể nội tiết âm tính.
Ở phụ nữ mãn kinh, estrogen chủ yếu do hoạt động của các men aromatase sinh ra, việc ức chế sinh tổng hợp estrogen trong các mô ngoại vi và bản thân mô ung thư vú, do đó, có thể được thực hiện bằng cách ức chế men aromatase. Thuốc nội tiết Letrozole là chất ức chế men aromatase không có cấu trúc streroid. Thuốc ức chế men aromatase bằng cách gắn với men sắc tố tế bào P450 của men dẫn đến sự giảm sinh tổng hợp estrogen trong mô.
Cử nhân Lê Thị Hoa chia sẻ kết quả nghiên cứu trên 110 trường hợp ung thư vú đã mãn kinh có thụ thể nội tiết dương tính từ tháng 01/2014 đến tháng 8/2014 cho thấy nhóm 50-59 tuổi chiếm 49%; 81% đối tượng nghiên cứu gặp các tác dụng phụ sau dùng thuốc nội tiết, các tác dụng phụ thường xuất hiện từ tháng 3 sau dùng thuốc chiếm 54,6%, trong đó đau các khớp ngón tay, cổ tay chiếm gần 65%; Mức độ ảnh hưởng đến công việc hàng ngày ở mức độ nhẹ (64%); đi lại vận động khó khăn, hạn chế (3,6%); không có trường hợp nào ngưng điều trị giữa chừng giúp cho quá trình điều trị đạt kết quả tốt, kéo dài thời gian sống thêm cho người bệnh.
Văn Hanh