[Đăng ngày: 26/01/2016]
Ở trẻ em, các ung thư thường gặp là bệnh bạch cầu (ung thư máu), bệnh lymphôm (ung thư hạch lymphô), ung thư não, bướu Wilms, ung thư mắt (bướu nguyên bào võng mạc).
Bướu Wilms là bướu thận ác tính. Ở Mỹ mỗi năm ước tính phát hiện khoảng 500 trường hợp mắc bệnh mới. Tại TP Hồ Chí Minh từ năm 1995 – 1997 ghi nhận tần suất mắc bướu Wilms là 2,5/100.000 trẻ. Mục tiêu điều trị bệnh bướu Wilms là cải thiện tỷ lệ sống còn, các phác đồ điều trị hướng đến giảm thiểu tối đa độc tính liên quan đến điều trị, đặc biệt là độc tính liên quan xạ trị. Phác đồ điều trị SIOP 2001 có chiến lược điều trị hóa chất trước phẫu thuật nhằm làm giảm kích thước bướu, giúp phẫu thuật sau đó dễ dàng hơn, giảm nguy cơ vỡ bướu, do đó giảm số trường hợp bướu giai đoạn 3 phải xạ trị, giảm được độc tính của xạ trị nhưng vẫn đạt được tỷ lệ điều trị khỏi bệnh cao.
Tại Hội nghị khoa học ung thư thường niên TP Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức vào tháng 12/2015, nhóm nghiên cứu Võ Thị Phương Mai, Ngô Thụy Minh Nhi, Cung Thị Tuyết Anh, Bệnh viện Ung bướu và Bệnh viện Nhi Đồng 2, TP Hồ Chí Minh báo cáo đề tài “Kết quả điều trị bướu Wilms theo phác đồ SIOP 2001”. Nghiên cứu có 2 mục tiêu (1) Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, bệnh học của bướu Wilms (2) Đánh giá kết quả điều trị và đánh giá kết quả sống còn 2 năm. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 6/2011 đến tháng 12/2014; có 44 bệnh nhi được chẩn đoán xác định bằng giải phẫu bệnh là bướu Wilms và được điều trị theo phác đồ SIOP 2001 tham gia nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu trong 24 bệnh nhi được phẫu thuật đầu tiên có 21 bệnh nhi kết quả giải phẫu bệnh là bướu Wilms. Nhóm hóa tiền phẫu có 23/27 bệnh nhi có giải phẫu bệnh sau mổ là bướu Wilms. Có 4 trường hợp trên 27 trường hợp có kết quả chẩn đoán hình ảnh sai. Trong 44 bệnh nhi bướu Wilms có 42 bệnh nhi được theo dõi đến ngày kết thúc nghiên cứu, 2 bệnh nhi trong nhóm hóa tiền phẫu bỏ điều trị ở giai đoạn hóa trị sau mổ.
Theo báo cáo của BS Phương Mai, tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 28,5 tháng, bệnh nhi có tuổi thấp nhất là một tháng, lớn nhất là 80 tháng tuổi. Nhóm tuổi từ 5 tháng đến 5 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 31 em. Về tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ không chênh lệch nhau nhiều 1/1,3. Đối với vị trí bướu ở thận trái là 52,3% cao hơn một ít so với vị trí bướu ở thận phải (47,7%).
Về triệu chứng lâm sàng, hơn 70% bệnh nhi có bướu ở bụng; 25% đau bụng, 14% tiểu máu; 9% cao huyết áp; 4,5% sốt. Phân bố giai đoạn bệnh có 12 trường hợp giai đoạn I, 16 trường hợp giai đoạn II, 15 trường hợp giai đoạn III và 1 trường hợp giai đoạn IV.
Tác giả nghiên cứu chia sẻ về kết quả điều trị, thể tích bướu trung bình trước hóa tiền phẫu là 389,04 ml và sau hóa trị liệu là 227,72 ml. Tai biến gặp phải khi phẫu thuật đầu tiên là vỡ bướu 23,8%, cắt cơ quan khác 9,5%; ngoài ra còn gặp một số tai biến nhiễm trùng vết mổ, rách mạch máu. Đối với các độc tính do hóa chất trong quá trình điều trị hóa trị có giảm hồng cầu, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu, xuất huyết da niêm, viêm da loét miệng, sốt không kèm nhiễm trùng, sốt có ổ nhiễm trùng; tăng men gan hoặc Bilirubin; giảm thanh thải creatinin, táo bón.
BS Võ Thị Phương Mai cũng cho biết có 2 trường hợp bệnh tái phát tại chỗ; có 4 trường hợp tử vong. Qua kết quả điều trị cho thấy hiệu quả của hóa tiền phẫu trong việc giảm các tai biến phẫu thuật, trong đó giảm nguy cơ vỡ bướu khi mổ, qua đó giảm được tỷ lệ bướu giai đoạn III. Phân tích về độc tính do hóa trị, hệ tạo huyết gặp nhiều nhất và dòng tế bào giảm nhiều là bạch cầu. Độc tính trên thận xảy ra ở mức độ nhẹ và tất cả đều hồi phục khi kết thúc điều trị. Nghiên cứu không phát hiện độc tính của hóa trị gây tắc tĩnh mạch trong gan, suy tim sung huyết. Các độc tính trên da, hệ tiêu hóa, gan xảy ra ở mức độ nhẹ và tất cả các trường hợp đều hết sau điều trị hỗ trợ. Đối với tỷ lệ sống còn theo tác giả nghiên cứu nếu so sánh kết quả điều trị với các nước điều trị theo phác đồ NWTS thì hiệu quả điều trị theo phác đồ SIOP 2001 là tương đương.
BS Võ Thị Phương Mai kết luận kết quả điều trị bướu Wilms theo phác đồ SIOP 2001 khá tốt với tỷ lệ sống còn trên 80%; đồng thời các độc tính, tai biến cấp liên quan điều trị ở mức thấp và phần lớn hết khi kết thúc điều trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy các lợi ích của phương thức hóa tiền phẫu của phác đồ SIOP như phẫu thuật ít tai biến hơn, tỷ lệ giai đoạn I tăng lên, tỷ lệ giai đoạn III giảm.
Trần Mai
    

  



 

THỜI TIẾT
Độ ẩm:
Gió:

Đang online: 144

Số lượt truy cập: 9369965

SỞ Y TẾ TỈNH KHÁNH HÒA
Khu liên cơ Số 2, 03 Hàn Thuyên, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3822987 Fax: 058.3827908 Email:syt@khanhhoa.gov.vn
Website: https://syt.khanhhoa.gov.vn
Chịu trách nhiệm chính: BS. CK2 Lê Văn Khoa - Giám đốc Sở Y tế tỉnh Khánh Hòa 
Chung nhan Tin Nhiem Mang