
Bệnh lý ác tính hay bệnh ung thư là bệnh lý hiếm gặp ở trẻ em. Bệnh ác tính khó phát hiện giai đoạn khởi phát vì dấu hiệu ban đầu mơ hồ, không điển hình.
Đối với bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em dưới 1 tuổi tỷ lệ phần trăm gặp là 18%, ở độ tuổi 1-4 tuổi tỷ lệ này tăng lên 43%, độ tuổi 5-9 tuổi, có tỷ lệ là 36%, 10-14 tuổi có tỷ lệ 23% và 15-19 tuổi là 13% (Theo Linabery ROSS JA. Trend in childhood cancer incidence in the U.S Cancer 2008).
Các triệu chứng và dấu hiệu bất thường cần cảnh báo ở trẻ để tiến hành xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và tư vấn y khoa ngay đối với bệnh bạch cầu cấp là xuất huyết da, hạch to không đáp ứng kháng sinh trị liệu, đau nhức cơ xương, các xét nghiệm cần được tiến hành là huyết đồ, Xquang ngực, chẩn đoán hình ảnh.
Tại Hội nghị Khoa học phòng chống ung thư thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức tháng 12/2015, nhóm tác giả Hồ Trần Phương Thảo, Nguyễn Đình Văn, Phạm Xuân Dũng, Khoa Ung bước huyết học Bệnh viện Nhi đồng 2 và Bệnh viện Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh đã báo cáo nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị bệnh bạch cầu lymphô cấp ở trẻ em”.
Theo Bs Phương Thảo, trước đây khoảng 40 năm, bệnh bạch cầu lymphô cấp ở trẻ em được xem là bệnh lý tử vong ở trẻ em với thời gian sống chỉ 2-3 tháng sau khi được chẩn đoán. Ngày nay, nhờ những tiến bộ trong hóa trị liệu, bệnh bạch cầu lymphô trẻ em gần như đã được điều trị khỏi với tỷ lệ sống còn không bệnh 5 năm đạt gần 80%. Tại Việt Nam, điều trị bệnh bạch cầu lymphô cấp trẻ em đang được tiến hành trên nhiều bệnh viện với nhiều phác đồ khác nhau. Bs Phương Thảo chia sẻ tại Bệnh viện Nhi đồng 2 việc điều trị bệnh bạch cầu lymphô đã được thực hiện từ năm 2012 theo phác đồ Fralle 2000.
Nghiên cứu “Đánh giá kết quả điều trị bệnh bạch cầu lymphô cấp ở trẻ em được thực hiện từ tháng 01/2014. Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh bạch cầu cấp khi có trên 25% tế bào blast trong tủy xương. Chẩn đoán bệnh bạch cầu lymphô cấp dựa vào hình thái học tế bào và dấu ấn miễn dịch tế bào.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 59 bệnh nhân ≥15 tuổi tham gia nghiên cứu, đặc điểm triệu chứng lâm sàng thường gặp là sốt, xanh xao, gan to. Tỷ lệ bệnh nhân phát hiện tế bào non trong máu ngoại vi chiếm đa số 37,3% cho thấy xét nghiệm tìm tế bào non trong máu không là một xét nghiêm nhạy trong chẩn đoán bệnh bạch cầu cấp, đồng thời tác giả nghiên cứu lưu ý tỷ lệ chạm thương trong chọc dò dịch não tủy cao.
Về đặc điểm lâm sàng, độ tuổi đối tượng nghiên cứu từ 01-10 tuổi có 51 bệnh nhân (86,4%); Nam giới (57,6%) nhiều hơn nữ giới…Có 74,6% đối tượng nghiên cứu sốt, 66,7% xanh xao, 42,4% xuất huyết, 32,2% đau xương; 66,7 gan to; 55,9% lách to, 16,9% hạch to, xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy bạch cầu>50x109/μL có tỷ lệ 25,4%; nồng độ Hemoglobin <8g/dL chiếm 45,8%; tiểu cầu < 50 x 109/μL chiếm hơn 50%, lượng tế bào non trong máu ngoại vi >5% chiếm 37,3%; hình thái tế bào L2 là 71,2%; dấu ấn miễn dịch tế bào B là 91,5%.
Tỷ lệ kết quả đáp ứng sau điều trị tấn công cho thấy đáp ứng corticoid ngày 08 là 45 bệnh nhân (76,3%); Tủy đồ ngày 21 đối với M1 là 94,9%; M2 là 3,4% và M3 là 1,7%. Về phân nhóm nguy cơ B1 có 59,3%; B2 32,2%; T1 có 5,1% và T2 có 3,4%. Tỷ lệ lui bệnh sau điều trị tấn công là 98,3%.
Tỷ lệ tái phát trung bình là 11,4 tháng. Vị trí tái phát ở tủy xương là 10 trường hợp; thần kinh trung ương là 7 trường hợp. Bs Phương Thảo cũng phân tích tỷ lệ tái phát giữa các nhóm nguy cơ là B1 và B2, T1 và T2 không có sự khác biệt, nguyên nhân do nghiên cứu không áp dụng các tiêu chuẩn di truyền trong phân nhóm nguy cơ bệnh nhân, việc đánh giá đáp ứng điều trị chủ yếu dựa vào tủy đồ, chỉ một số ít bệnh nhân thực hiện đánh giá tồn lưu tế bào ác tính sau giai đoạn tấn công khiến bỏ sót các bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ cao.
Nghiên cứu tiến hành theo dõi đến ngày 30/6/2015 cho thấy thời gian sống còn toàn bộ trung bình là 24,5 ± 9 tháng. Xác xuất sống còn toàn bộ 3 năm là 74,3% nhóm 1-9 tuổi và bệnh bạch cầu cấp lymphô dòng B có tiên lượng thời gian sống còn toàn bộ tốt hơn các nhóm khác.
Đối với tác dụng phụ của hóa trị trong giai đoạn tấn công, về huyết học ngày suy tủy sâu nhất là 21, thời gian phục hồi bạch cầu hạt và tiểu cầu trong giai đoạn tấn công bạch cầu 22,56±8,78 ngày; tiểu cầu 9±5 ngày. Thời gian nằm viện trong giai đoạn tấn công 55 ngày, có 35 bệnh nhân biến chứng nhiễm trùng giai đoạn tấn công. Vị trí nhiễm trùng thường gặp là catheter tĩnh mạch trung ương, nhiễm trùng huyết và nhiễm trùng tiêu hóa. Các biến chứng khác là nôn ói, loét miệng, tăng men gan, viêm tụy cấp và giảm fibrinogen.
Bs Hồ Trần Phương Thảo có kiến nghị cần mở rộng nghiên cứu đề tài với thời gian trên 5 năm đồng thời cần có thêm nhiều nghiên cứu đa trung tâm trong cả nước để có thể có kết luận chính xác về điều trị bệnh bạch cầu lymphô cấp theo phác đồ Fralle 2000.
Văn Hanh