
Kỹ thuật xạ trị ung thư hiện đại dùng trong lâm sàng gồm có xạ trị dưới sự hướng dẫn của hình ảnh – IGRT; Xạ trị hình cung, điều biến liều theo thể tích – VMAT, Xạ trị đáp ứng sinh học – BioART; Xạ trị cắt lớp; Xạ trị bằng chùm hạt proton; Xạ trị hình thái khối u bằng chùm hạt Neutron và Xạ trị áp sát với nguồn I-125 đặt vĩnh viễn.
Báo cáo của bác sĩ Nguyễn Xuân Cử - Bệnh viện K Hà Nội tại Hội nghị khoa học phòng chống ung thư TP Hồ Chí Minh lần thứ 18 được tổ chức 12/2015, cho thấy xạ trị cắt lớp – Tomotherapy là loại thiết bị đặt biệt để phân bố tối ưu liều xạ trị tại thể tích bia (khối u).
Theo BS Cử, dựa trên những hình ảnh trực tiếp hàng ngày của CT để lấy thông tin giải phẫu của người bệnh chứ không phải thông tin có từ tuần trước, tháng trước; Tomotherapy giúp phân bố liều bức xạ quanh thể tích bia với độ chính xác cao từ mọi góc độ và khác nhau cho mỗi bệnh nhân. Tomotherapy giúp giảm thiểu liều có hại cho các mô lành bao quanh, giúp chỉnh sửa kế hoạch xạ trị tại bất kỳ vị trí nào khi cần thiết.
Đặc tính kỹ thuật của xạ trị cắt lớp Tomotherapy là cho phép quan sát khối u theo không gian 3-D trong khi hầu hết các thiết bị xạ trị khác chỉ cho phép quan sát sự phân bố liều lượng tại khối u theo 2D. Vì vậy, với kỹ thuật Tomotherapy người bệnh ung thư sẽ được phân bố liều lượng một cách chính xác hơn, ít can thiệp hơn, vì những kỹ thuật khác đôi khi cần phải phẫu thuật can thiệp như cài cắm những vật bằng kim loại đánh dấu trong bệnh nhân để xác định vị trí, tọa độ khối u. Với Tomotherapy không cần phải làm điều đó. Thời gian điều trị của Tomotherapy chỉ mất dưới 10 phút, ngắn hơn với các phương pháp khác trên cùng loại ung thư. Hơn nữa Tomotherapy có thể điều trị những khối u có các kích thước khác nhau trong những thiết bị khác chỉ điều trị những khối u có kích thước nhất định. Đồng thời Tomotherapy còn kết hợp với hệ thống CT Scanner ngay trên cùng một khung máy, nhờ vậy tạo dựng đầy đủ hình ảnh 3D thực hàng ngày để đảm bảo định vị chính xác tư thế người bệnh trước mỗi lần phát tia; sau đó thực hiện xạ trị theo những kỹ thuật hiện đại như IMRT; đồng thời giảm thiểu tác dụng phụ cho người bệnh.
Đối với phương pháp xạ trị bằng chùm hạt proton, đây là phương pháp mới bằng chùm proton; đặc trưng liều duy nhất của các hạt proton năng lượng cao, gọi là đỉnh Bragg, phân bố một liều lượng cao tại khối u nhưng lại giảm tối thiểu được liều lượng cho các mô lành ở phía trước và phía sau thể tích bia – khối u.
Theo BS Nguyễn Xuân Cử vì đỉnh Bragg hẹp, nên cần phải mở rộng đỉnh sao cho có thể bao trùm toàn bộ lên khối u ở độ sâu nào đó. Điều này được thực hiện bằng cách kết hợp một số chùm tia với các mức năng lượng khác nhau. Việc điều chỉnh năng lượng này được thực hiện bằng kỹ thuật điện tử trong các máy gia tốc đa năng lượng; sử dụng các bộ lọc xoay với độ dày khác nhau, gọi là bộ lọc đỉnh đặt ở giữa nguồn proton và người bệnh. Để thu được mức xuyên sâu theo ý muốn của chùm tia, người ta cần mức năng lượng cực đại của proton tới 200 MeV. Phương pháp xạ trị bằng chùm hạt proton do giá thành quá đắt nên chỉ có vài cơ sở áp dụng điều trị.
Đối với phương pháp xạ trị áp sát với nguồn I - 125 đặt vĩnh viễn, theo BS Nguyễn Xuân Cử, nguồn Iodine - 125 là đồng vị phóng xạ của Iodine được dùng phổ biến trong xét nghiệm sinh học; trong ghi hình y học hạt nhân và trong lĩnh vực ung thư phương pháp này được sử dụng trong kỹ thuật Brachytherapy để điều trị ung thư tuyến tiền liệt và một số khối u não.
Đồng vị Iodine có thời gian bán hủy dài đứng hàng thứ hai sau Iodine – 129. Chu kỳ bán hủy của I – 125 khoảng 59 ngày. Khi I – 125 phân hủy nó trở thành Tellurium – 125 (Te – 125) ở trạng thái kích thích. Te – 125 gần như ngay lập tức bán rã phát ra các tia gamma(γ) với năng lượng cực đại 35KeV. Một số năng lượng gamma biến thành các tia – X. Với đồng vị phóng xạ Iodine – 125, các tia – X và tia gamma năng lượng đủ thấp để phân bố một liều bức xạ cao tại các tổ chức khối u mà không làm tổn hại cho các mô lành liền kề.
I – 125 đang trở thành hữu hiệu trong xạ trị áp sát và trong một số kỹ thuật ghi hình hạt nhân cần gắn với các phân tử protein như albumin hoặc fibrinogen và những xét nghiệm cần một thời gian kéo dài ngày hơn so với I – 123.
Một phương pháp khác là xạ theo hình thái khối u bằng chùm hạt Neutron. Đây là phương pháp đã sử dụng trong vài thập kỷ qua. Tuy nhiên kết quả điều trị còn chưa khẳng định vì có một số tổn thương phóng xạ cấp đã quan sát được tại một số cơ sở điều trị. Theo các tác giả nghiên cứu, để bảo vệ các mô lành một cách hợp lý, các chùm neutron cần phải được tạo hình dạng một cách thích hợp sao cho vùng lưu lượng cao được phân bố theo kích thước và hình dạng của thể tích bia – khối u; khả năng phục hồi da tốt và những mô lành không bị chiếu quá liều.
Thế hệ mới nhất của các máy neutron đang hoạt động với mức năng lượng khoảng 50MeV và sử dụng các hệ collimator nhiều lá hay nhiều thanh che chắn.
Anh Huy