
Trong thời gian 3 năm, từ tháng 3/2012 đến tháng 3/2015, nhóm tác giả nghiên cứu Đào Văn Tú, Trần Đăng Khoa, Ngô Quốc Dung của Bệnh viện K, Bệnh viện Ung bướu và Trường Đại học Y Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu “Đánh giá tình trạng biến đổi thụ thể nội tiết Estrogen ER, progesterol PR, thụ thể phát triển biểu mô HER2 và Ki67 ở các bệnh nhân ung thư vú trước và sau điều trị”.
Đây là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam đánh giá tình trạng biểu hiện các thụ thể trên màng tế bào ở các bệnh nhân ung thư vú. Chúng ta biết rằng ung thư vú là vấn đề lớn trên toàn thế giới. Bệnh lý ung thư vú di căn tới gan, phổi, xương, não, gây ra tiên lượng xấu với thời gian sống thêm trung bình từ 8 đến 34 tháng. Vấn đề điều trị ung thư vú giai đoạn di căn là một thử thách lớn. Khối u nguyên phát không đồng nhất ở cả mức độ tế bào và mức độ phân tử, trong khối u nguyên phát có nhiều dòng tế bào khác nhau và những dòng tế bào u ác tính hơn, kháng với điều trị ban đầu thường được chọn lọc phát triển và di căn xa. Vì vậy, những khối u di căn có thể không mang những đặc điểm sinh học của khối u nguyên phát nữa. Một số kết quả nghiên cứu trên thế giới cho thấy sự biến đổi đặc điểm hóa mô miễn dịch ở khối u di căn so với khối u nguyên phát chiếm tỷ lệ gần 38%, trong đó thay đổi ER chiếm 16%; PR chiếm 40,4% và HER2 là 9,6%. Sự biến đổi đặc điểm thụ thể nội tiết và thụ thể phát triển biểu mô có thể dự đoán tình trạng đáp ứng với các điều trị nhắm trúng đích như điều trị nội tiết và điều trị kháng thể đơn dòng.
Theo BS Đào Văn Tú, nghiên cứu được thực hiện trên 21 bệnh nhân được chẩn đoán xác định ung thư vú bằng giải phẫu bệnh, có kết quả hóa mô miễn dịch ghi nhận tình trạng ER, PR và HER2. Bệnh nhân được điều trị hóa trị, có kết quả giải phẫu bệnh trước và sau hóa trị; tất cả bệnh nhân được làm hóa mô miễn dịch tổn thương trước và sau điều trị.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình đối tượng nghiên cứu là 51,2; trẻ nhất là 26 tuổi, lớn nhất là 76 tuổi. Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy thể ống xâm nhập có 18 trường hợp (85,8%), thể dạng nhầy có 2 trường hợp và thể tiểu thùy xâm nhập có 1 trường hợp. Tất cả bệnh nhân được điều trị hóa trị, trong đó 11 bệnh nhân điều trị bằng phác đồ TA gồm 2 thuốc Taxane và Doxorubicin.
Theo phân tích của BS Đào Văn Tú, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có sự thay đổi ER trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê với p = 0,03. Điều này được giải thích là do các nhóm tế bào có thụ thể nội tiết dương tính thường kém nhạy cảm với hóa trị và có thể sống sót sau hóa trị.
Còn đối với sự khác biệt giữa đặc điểm PR, HER2 trước và sau điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự thay đổi tỷ lệ bệnh nhân với đặc điểm PR trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê. Trong đó có 4 bệnh nhân chuyển từ âm tính sang dương tính và 3 bệnh nhân chuyển từ dương tính sang âm tính. Kết quả này cũng tương tự như sự khác biệt đặc điểm HER2 trước và sau điều trị. Trong nghiên cứu, có 5 trường hợp biến đổi từ không biểu hiện thụ thể HER2 thành có biểu hiện mạnh thụ thể HER. Ngược lại có 2 trường hợp có biểu hiện mạnh thụ thể HER, sau điều trị chuyển thành nhóm không biểu hiện thụ thể HER2.
BS Tú lưu ý biểu hiện của ER, PR là yếu tố dự báo cho tỷ lệ đáp ứng tốt với điều trị nội tiết, tuy nhiên lại đáp ứng kém với hóa trị. Trong nghiên cứu có một tỷ lệ thụ thể nội tiết âm tính trước điều trị, nhưng sau điều trị hóa trị thụ thể nội tiết lại trở thành dương tính. Kết quả này làm thay đổi thực hành lâm sàng, thay đổi chỉ định cho bệnh nhân.
Còn đối với so sánh sự khác biệt Ki67 trước và sau điều trị, kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p = 0,01. Giải thích về sự thay đổi đặc điểm hóa mô miễn dịch trước và sau điều trị, tác giả nghiên cứu cho rằng có thể do khối u thường có tính chất đa hình thái với nhiều dòng tế bào khác nhau. Các dòng tế bào này biểu hiện các dấu ấn trên màng tế bào, các receptor đặc hiệu, trong ung thư vú đó là ER, PR và HER2, còn Ki67 là một marker thể hiện các tế bào đang ở giai đoạn phân bào, thường rất nhạy cảm với hóa trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy trước điều trị chỉ số T là 2,97 và sau điều trị T = 2,17, điều này có ý nghĩa là tỷ lệ Ki67 giảm sau điều trị hóa trị, có nghĩa là sau khi chịu tác dụng của hóa trị, các tế bào ung thư có xu hướng giảm phân bào, giảm hoạt động, giúp cho tế bào thích nghi, ít bị ảnh hưởng của hóa trị.
Tác giả nghiên cứu kết luận có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê của tình trạng biểu hiện ER, PR, HER2 và Ki67 tại thời điểm trước và sau hóa trị ở bệnh nhân ung thư vú. Thụ thể Estrogen thay đổi 38% trước và sau điều trị với p = 0,03. Thụ thể progesterol thay đổi 33% trước và sau điều trị với p = 0,025. Thụ thể HER2 thay đổi 57% trước và sau điều trị; Ki67 thay đổi 67% trước và sau điều trị với p = 0,01. Sự thay đổi này có thể thay đổi chỉ định điều trị ở bệnh nhân ung thư vú./.
Anh Duy